|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 116/2025/HS-ST Ngày 14/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quốc Thái
Ông Nguyễn Tiến Phúc
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Tưởng Quốc Cường – Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Bùi Như Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 101/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXXST - HS ngày 02/4/2025, đối với bị cáo:
TRẦN TIẾN DŨNG; Ngày sinh: 14/5/2005; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Tỉnh Nam Định; Nơi thường trú: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ văn hóa: 12/12; Bố đẻ: Trần Nam S, sinh năm 1978; Mẹ đẻ: Đỗ Thị N, sinh năm 1984; Anh chị em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị can bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 10/02/2025 đến ngày 17/02/2025. Hiện bị can đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt)
* Bị hại: Anh Trần Doãn M, sinh năm 2006; Nơi thường trú: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện tại: Số H ngõ H T, huyện T, Hà Nội. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1979; HKTT và nơi ở: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Trần Tiến D bị Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Do không có tiền chi tiêu cá nhân, Trần Tiến D nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Chiều ngày 10/02/2025, D đi từ nhà trọ ở phường P, quận H, thành phố Hà Nội lên tàu điện trên cao đến khu vực trường H1 với mục đích xem ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi đến trường H1, D đi qua khu vực sân bóng rổ thấy có nhiều ba lô, cặp sách của sinh viên để ở ghế gỗ không có người trông coi, quan sát xung quanh thấy không có người. D lấy 01(một) chiếc ba lô màu đen để trên ghế gỗ của anh Trần Doãn M và đi lên phòng vệ sinh tầng 2, tòa nhà A3 trường H1 kiểm tra bên trong chiếc ba lô của anh M thấy có tài sản gồm: 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 8 màu xanh; 01(một) đăng ký xe máy số 020869 có tên chủ xe Nguyễn Thị H (sinh năm 1979, trú tại: xóm F xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An) biển kiểm soát 37D1-791.32; 01(một) chiếc vé gửi xe ban ngày của Công ty Cổ phần Đ với biển số 37D1-791.32; 01(một) chìa khóa xe máy và số tiền 410.000 đồng. D lấy toàn toàn bộ tài sản trong ba lô của anh M cất vào trong ba lô của mình, bỏ lại chiếc ba lô vừa lấy của anh M trong nhà vệ sinh.
D thấy có chiếc vé gửi xe mang biển kiểm soát 37D1-791.32 nên D đi vào bãi đỗ xe của trường tìm, lấy xe. Tại bãi gửi xe của Trường H1, D phát hiện thấy chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu đen- đỏ, BKS 37D1-791.32 của anh M để ở khu vực cuối bãi để xe, D quan sát xung quanh không thấy có người nên đã dùng chìa khóa xe máy đã lấy được trong chiếc ba lô của anh M, mở khóa điện và điều khiển xe máy đi ra ngoài. Hồi 16 giờ 00 phút cùng ngày, khi D đi đến chốt bảo vệ trông giữ xe thì bị chủ xe là anh Trần Doãn M và bảo vệ phát hiện, báo Công an phường M bắt quả tang, thu giữ vật chứng và chuyển đến Cơ quan điều tra Công an quận H (nay là thành phố Hà Nội) để điều tra theo thẩm quyền.
Vật chứng của vụ án đã thu giữ được gồm:
- Thu giữ của Trần Tiến D:
- + 01 ba lô da màu đen, không nhãn hiệu, có hai quai đeo phía sau (đã qua sử dụng);
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 8 màu xanh, imei 1: 864202054941528, imei 2: 864202054941536 (đã qua sử dụng);
- + 01 xe máy Honda Wave màu đen, đỏ mang biển kiểm soát 37D1-791.32, số khung 3905HY0625930, số máy: JA39E0062641 (đã qua sử dụng);
- + 01 đăng ký xe máy biển kiểm soát 37D1-791.32 mang số 020869, mang tên chủ xe: Nguyễn Thị H (Sinh năm 1979; Trú tại Xóm F, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An);
- + 01 (một) vé gửi xe ban ngày của Công ty Cổ phần Đ số 0069406 với biển số 37D1-791.32;
- + Số tiền 410.000 đồng.
- Thu giữ vật chứng khi tiến hành dẫn giải Trần Tiến D: 01 ba lô da màu đen, không nhãn hiệu, có hai quai đeo phía sau (đã qua sử dụng)
Ngày 11/02/2025, Cơ quan điều tra đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 1139 đối với tài sản Trần Tiến D đã chiếm đoạt nêu trên của anh Trần Doãn M gồm: 01 ba lô da màu đen, không nhãn hiệu, có hai quai đeo phía sau; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 8 màu xanh, imei 1: 864202054941528, imei 2: 864202054941536 và 01 xe máy Honda Wave màu đen, đỏ mang biển kiểm soát 37D1-791.32, số khung 3905HY0625930, số máy: JA39E0062641. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 11/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng quận H, kết luận:
- “ - Giá trị tài sản 01 ba lô màu đen, không nhãn hiệu (đã qua sử dụng): không xác định được giá trị do không có nhãn hiệu, xuất xứ hàng hóa;
- - Giá trị 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 8 màu xanh, imei 1: 864202054941528, imei 2: 864202054941536 (đã qua sử dụng) là 500.000 đồng
- - Giá trị 01 xe máy Honda Wave màu đen, đỏ mang biển kiểm soát 37D1-791.32, số khung 3905HY0625930, số máy: JA39E0062641 (đã qua sử dụng) là 9.200.000 đồng.
Tổng giá trị các tài sản trên là 9.700.000 đồng.”
Đối với 01 xe máy Honda Wave màu đen, đỏ mang biển kiểm soát 37D1-791.32, số khung 3905HY0625930, số máy JA39E0062641 là chiếc xe Dũng đã trộm cắp nêu trên. Kết quả điều tra xác định: chiếc xe được đăng ký sở hữu mang tên Nguyễn Thị H (Sinh năm 1979; Trú tại Xóm F, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An). Bà H trình bày tháng 4/2017, bà H mua chiếc xe trên đăng ký chính chủ tên bà H. Năm 2024, con trai bà là anh Trần Doãn M đi học đại học nên bà cho anh M chiếc xe này sử dụng làm phương tiện đi lại. Ngày 14/02/2025, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số 1442 và tiến hành trao trả 01 xe máy Honda Wave màu đen, đỏ mang biển kiểm soát 37D1-791.32; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 8 màu xanh; 01 đăng ký xe máy biển kiểm soát 37D1-791.32; 01 ba lô da màu đen, không nhãn hiệu, có hai quai đeo phía sau (đã qua sử dụng); số tiền 410.000 đồng cho anh Trần Doãn M là có căn cứ. Anh M nhận lại tài sản và không ý kiến đề nghị gì.
Bản cáo trạng số 90/CT–VKS-HS ngày 19/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố Trần Tiến D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự.:
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Tiến D khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố đối với bị cáo, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông duy trì quyền công tố: Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quan điểm và đề nghị xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Tiến D từ 07 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 20 tháng.
- - Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo D bồi thường về trách nhiệm dân sự, nên không xem xét.
- - Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu huỷ 01 ba lô da màu đen, không nhãn hiệu, có hai quai đeo phía sau (đã qua sử dụng) của bị cáo sử dụng vào hành vi phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi hoặc quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]Về thủ tục tố tụng: Người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ, nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng tới việc xét xử, nên căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như nội dung cáo trạng phản ánh, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người bị hại, kết luận giám định, phù hợp về thời gian, địa điểm, diễn biến của vụ án và các tài liệu đã thu thập được. Nên đủ cơ sở kết luận: Trần Tiến D đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Trần Doãn M, gồm: 01(một) chiếc xe máy Honda Wave màu đen, đỏ mang biển kiểm soát 37D1-791.32 (đã qua sử dụng) trị giá 9.200.000 đồng; 01 ba lô da màu đen, không nhãn hiệu, có hai quai đeo phía sau (đã qua sử dụng), 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 8 màu xanh (đã qua sử dụng) trị giá 500.000 đồng và số tiền 410.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Trần Tiến D đã chiếm đoạt là 10.110.000 đồng.
Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo D về tội Trộm cắp tài sản, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo chỉ vì không có tiền chi tiêu cá nhân, không chịu lao động mà thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người hữu ích cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét: tại cơ quan điều tra cũng như trước phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được trả lại cho người bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51. Xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có thể cân nhắc áp dụng hình phạt tù, nhưng cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là sinh viên còn đi học, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 ba lô da màu đen, không nhãn hiệu, có hai quai đeo phía sau (đã qua sử dụng) của bị cáo sử dụng vào hành vi phạm tội.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 45; 46; 47, 106, 136; 260; 268; 269; 299; 326; 327; 329; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án;
1- Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Tiến D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2- Điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Tiến D 07 (bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Tiến D cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên. Thì tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 bộ luật hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ 01 ba lô da màu đen, không nhãn hiệu, có hai quai đeo phía sau (đã qua sử dụng). Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01 tháng 4 năm 2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H với Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông
4- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng(hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Bùi Thanh Hải |
Bản án số 116/2025/HS-ST ngày 14/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 116/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Tiến Dũng có hành vi trộm cắp tài sản bị xử phạt 7 tháng tù nhưng cho hưởng án treo
