|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 116/2025/HS-ST Ngày 08 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Châm
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bạc Thị Kiên
Bà Trần Thị Duyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Minh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 99/2025/HSST ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 14/2025/HĐXX-QĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Đức C; tên gọi khác: Hoàng Thanh T; sinh năm: 1977, tại: tỉnh Thái Bình; nơi ĐK thường trú: Thôn A, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nơi ở trước ngày bị bắt: Thôn G, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn H (đã chết) và bà Hoàng Thị M (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị H1 (đã ly hôn); bị cáo có 01 người con sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý vi phạm hành chính, đã bị kết án: Ngày 24/02/2011, bị Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 30 tháng tù về tội Vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma tuý, ngày 20/01/2013 chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 07/8/2014, bị Toà án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu xử phạt 03 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, ngày 21/01/2017 chấp hành xong hình phạt tù (hai bản án này bị cáo đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/12/2024 sau đó bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 27/12/2024, Hoàng Đức C đi bộ từ nhà đến khu vực đường thuộc bản X, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi, C gặp và hỏi mua được của một người phụ nữ dân tộc T1 khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Mua xong, C cầm gói H2 đi bộ xuống bờ ruộng gần đó, nhặt được một chiếc bật lửa và một mảnh giấy bạc, rồi mở gói ma tuý ra cấu một ít Heroine sử dụng bằng hình thức hít. Sử dụng xong, C vứt mảnh giấy bạc và chiếc bật lửa đi. Số Heroine còn lại Chung gói lại như cũ, cầm ở tay phải rồi đi bộ về. Hồi 07 giờ 10 phút cùng ngày, khi C đang đi trên đường thuộc khu vực thôn G, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Công an xã S, huyện Đ phối hợp với Công an xã P, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại tay phải C đang cầm 01 gói nilon màu hồng, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là H2. Tổ công tác mời người chứng kiến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 27/12/2024 tại Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã xác định: Chất bột màu trắng thu giữ của Hoàng Đức C có khối lượng là 0,11 gam, gửi toàn bộ làm mẫu vật giám định chất ma tuý. Tại bản kết luận giám định số: 07/KL-KTHS ngày 02/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Hoàng Đức C gửi giám định là chất ma túy loại Heroine. H3 lại mẫu vật gửi giám định là 0,07 gam.
Tại Bản cáo trạng số: 37/CT-VKSHĐB ngày 17/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Hoàng Đức C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 05 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,07 gam Heroine (là vật chứng hoàn lại sau giám định); tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không tranh luận và hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng, Luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 07 giờ 10 phút ngày 27/12/2024 tại khu vực thôn G, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Hoàng Đức C bị bắt quả tang khi đang có hành vi cất giấu trái phép 0,11 gam Heroine, mục đích để bản thân sử dụng. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng, Kết luận giám định, Kết luận điều tra và các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng cũng như nhận thức được chính sách pháp luật hình sự của nhà nước đối với những hành vi mua bán, tàng trữ,... trái phép chất ma túy nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm những quy định của nhà nước về chế độ quản lý, sử dụng các chất ma túy mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là tội phạm nghiêm trọng, vì vậy bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Nhân thân: Ngày 24/02/2011, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 30 tháng tù về tội Vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma tuý, ngày 20/01/2013 chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 07/8/2014, bị cáo bị Toà án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu xử phạt 03 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, ngày 21/01/2017 chấp hành xong hình phạt tù; hai bản án này bị cáo đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu.
Tại Bản án số 59/2011/HSST ngày 24/02/2011 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên và Bản án số 52/2014/HSST ngày 07/8/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu thể hiện bị cáo có tên gọi khác là Hoàng Thanh T nhưng lý lịch bị can và danh bản, chỉ bản trong hồ sơ xét xử bị cáo lần phạm tội này thể hiện bị cáo không có tên gọi khác. Tại Công văn số 14/CCCP-PV06 ngày 12/02/2025 của Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Đ đã kết luận: Kết quả tra cứu trong Hệ thống nhận dạng vân tay tự động (VAFIS) và cơ sở dữ liệu quản lý thông tin nghiệp vụ do PV06 quản lý thể hiện vân tay trên danh chỉ bản số [...] ghi tên Hoàng Đức C, sinh năm 1977 do Công an huyện Đ lập ngày 05/01/2025 đồng nhất với vân tay đối tượng Hoàng Đức C trong cơ sở dữ liệu có thông tin lai lịch và tiền án, tiền sự, số HSTW: 01864717Q, số DIB020638. Kết hợp với việc lấy lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay thể hiện bị cáo có họ tên là Hoàng Đức C, có tên gọi khác là Hoàng Thanh T.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt đối với bị cáo: Sau khi xem xét về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hình phạt chính: Cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cai nghiện đồng thời giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo nghề nghiệp tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án: 0,07 gam Heroine (là vật chứng hoàn lại sau giám định) thu giữ của bị cáo là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 mảnh nilon màu hồng không còn giá trị sử dụng nên cần bị tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[6] Các vấn đề khác:
Đối với người phụ nữ đã bán ma tuý cho bị cáo do bị cáo không biết tên tuổi và địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ được, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo khai sau khi mua được H2 đã nhặt được một chiếc bật lửa và một mảnh giấy bạc ở khu vực bờ ruộng, sau đó cấu một ít Heroine sử dụng bằng hình thức hít, sử dụng xong bị cáo đã vứt mảnh giấy bạc và chiếc bật lửa đi, Công an không thu giữ được. Ngoài lời khai của bị cáo không có chứng cứ nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý hành chính hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý đối với bị cáo, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9] Về các hành vi và Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã thực hiện đều hợp pháp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;
- Tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Đức C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51;
Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Hoàng Đức C 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 27/12/2024).
- Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,07 gam Heroine (là vật chứng hoàn lại sau giám định); Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/02/2025 giữa Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08/4/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA Phạm Thị Châm |
Bản án số 116/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 116/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Đức Ch phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
