Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIỀN HẢI

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 116/2024/HS-ST

Ngày: 13 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Vũ Văn Lợi

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tô Thị Hương

Bà Phan Thị Hạnh Mỹ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Huy – Thư ký TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy – Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 115/2024/TLST – HS, ngày 22 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2024/QĐXXST – HS, ngày 29 tháng 11 năm 2024 đối với, bị cáo: T - sinh ngày 09/4/2002, tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 1/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tô Đình K và bà Tô Thị N; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là thứ 2; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: 01, Bản án 77/2022/HSST ngày 23/9/2022 của TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Nhân thân: tháng 3/2021 tham gia nghĩa vụ quân sự, đến tháng 8/2021 bị tước quân tịch do vi phạm kỷ luật. Quyết định số 58 ngày 03/8/2022 của Công an huyện T xử phạt tiền về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/9/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Thái Bình.(Trích xuất, có mặt tại phiên tòa)

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Tiến S - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T.(Có mặt)

Bị hại: Chị Tô Ngọc Khánh L - sinh ngày 10/8/2007(Vắng mặt)

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị N1 – mẹ đẻ (Vắng mặt)

Địa chỉ: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do thiếu tiền tiêu sài cá nhân nên khoảng 03 giờ 00 phút ngày 14/9/2024, bị cáo Tô Đình S1 đi bộ quanh xã T, mục đích tìm kiếm nhà nào có sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến nhà bà Nguyễn Thị N1 – sinh năm 1985 ở cùng thôn, thấy tường dậu bảo vệ thấp, S1 trèo qua tường dậu đi vào trong bếp nhà bà N1 sau đó đi sang gian nhà kho chứa đồ nhưng không tìm kiếm được tài sản gì. Phát hiện cửa thông phòng giữa kho chứa đồ với phòng ngủ nhà bà N1 mở nên S1 đi vào trong thì thấy các con của bà N1 đang ngủ, trên đầu giường của chị Tô Ngọc Khánh L hướng ra cửa xuống nhà kho có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xanh lá cây của chị L, S1 đi lại dùng tay lấy chiếc điện thoại trên rồi đi theo lối cũ ra ngoài. Trên đường về S1 dùng tăm tre để tháo chiếc sim trong điện thoại vứt xuống mương nước cạnh đường. Khi vê đến nhà, S1 lấy chiếc điện thoại sử dụng nhưng do không biết mật khẩu nên không mở được, sợ bị phát hiện nên S1 đã giấu chiếc điện thoại vào trong tủ quần áo mục đích sẽ mang đi bán lấy tiền tiêu sài cá nhân.

Kết luận định giá tài sản số 1258 ngày 17/9/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T, xác định: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xanh lá cây đã qua sử dụng trị giá 6.000.000đ.

Tại bản cáo trạng số 123/CT - VKSTH ngày 22/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã truy tố: Bị cáo Tô Đình S1 về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi xem xét, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo phạm tội "Trộm cắp tài sản". Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo, xử phạt bị cáo Tô Đình S1 từ 12 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 18/9/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thuộc hộ nghèo.

- Ngoài ra còn đề nghị về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo đối với bị cáo, bị hại.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về hoà nhập cộng đồng, sửa chữa sai lầm gây ra.

* Tại phiên tòa: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có tranh luận gì và nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Sau khi xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Trong quá trình tiến hành tố tụng, các cơ quan, người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Việc ban hành các quyết định tố tụng đúng quy định của pháp luật. Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp bị hại không có khiếu nại, kiến nghị gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra, cáo trạng truy tố. Bị cáo khai: Khoảng 03 giờ 00 phút, ngày 14/9/2024, lợi dụng sơ hở trong việc trông coi, quản lý tài sản, bị cáo Tô Đình S1 đã trèo tường dậu vào nhà bà Nguyễn Thị N1 ở thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xanh lá cây đã qua sử dụng trị giá 6.000.000đ của chị Tô Ngọc Khánh L để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, quá trình truy tố, là chứng cứ buộc tội và hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa như: Đơn trình bày, đại diện bị hại bà Nguyễn Thị N1, biên bản lời khai của bị hại Tô Ngọc Khánh L; Sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm hiện trường do Công an huyện T lập ngày 15/9/ 2024; Biên bản tạm giữ, niêm phong đồ vật, tài liệu do Công an xã T, huyện T lập ngày 14/9/2024; Bản kết luận định giá tài sản số 1258 ngày 17/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T; Lời khai của người làm chứng Tô Ngọc A.

[4] Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh đến trật tự, an toàn công cộng, nếp sống văn hóa trong khu dân cư, gây dư luận bức xúc trong nhân dân. Lợi dụng sự sơ hở trong việc trông coi tài sản của chủ sở hữu, bị cáo đã trộm cắp đi tài sản của họ. Bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do lười lao động mà vẫn muốn có tiền tiêu sài cá nhân đã trộm cắp tài sản của người khác. Mặc dù biết hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

[5]. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Tô Đình S1 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng.

[6]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân: Bị cáo có một lần bị kết án chưa được xoá án tích do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng. Bị cáo có nhân thân rất xấu, đã bị kết án, xử lý hành chính về các hành vi trộm cắp tài sản.

[7]. Với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân thấy bị cáo không thể tự cải tạo. Bị cáo đã bị kết án chưa được xoá án tích, xử phạt hành chính. Tuy nhiên bị cáo không lấy việc đã bị kết án, xử phạt hành chính để thay đổi, sửa chữa bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội. Do đó cần thiết phải lên mức án phù hợp và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần vào công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Bị cáo không có công việc ổn định, thuộc hộ nghèo. Do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu về bồi thường trách nhiệm dân sự với bị cáo nên không đặt ra giải quyết.

[9]. Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro Max, màu xanh lá cây đã qua sử dụng của bị hại Tô Ngọc Khánh L, cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Thái Bình đã trả lại cho chị L là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[10]. Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo nên không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tô Đình S1 phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  2. Về hình phạt: Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tô Đình S1 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 18/9/2024.
  3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Tô Đình S1 không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Tô Ngọc Khánh L và người đại diện có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

*Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tiền Hải;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; Đại diện bị hại;
  • - Nhà tạm giữ CAH Tiền Hải;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - THA Dân sự, CA huyện Tiền Hải;
  • - TAND, VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Vũ Văn Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 116/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tô Đình S phạm tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger