Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY - HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2024/HSST

Ngày: 28/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY - HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tú.

  • - Các hội thẩm: Ông Đinh Quang Hoà và bà Đào Thị Minh Nguyệt.

  • - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Đức Thuận - Thư ký Toà án nhân dân Thị xã Sơn Tây.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hiếu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 117/2024/HSST ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị T, sinh năm 1991 tại huyện B, Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn Q, xã Y, huyện B, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 4/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Phùng Thị L, Chồng Nguyễn Tiến Q và có 03 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh tháng 02 năm 2024; Tiền sự: Không; Tiền án: có 01 tiền án (Năm 2014 bị Tòa phúc thẩm TANDTC tại TP Hồ Chí Minh xử phạt 10 năm tù về tội Giết người. Đến ngày 28/4/2020, chấp hành xong án phạt tù, trở về địa phương sinh sống. Hình phạt bổ sung chưa chấp hành xong: Trợ cấp nuôi dưỡng; Án phí dân sự sơ thẩm và bồi thường dân sự, nên bị cáo chưa được xóa án).

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, (Có mặt).

- Bị hại: Chị Hoàng Thị B1, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn M, xã Y, B, Hà Nội; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 18/08/2024, chị Hoàng Thị B1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode màu sơn trắng, BKS: 29V1-70476 đến và gửi xe máy ở sân sau của Bưu điện X để vào chợ X1 và có để quên một chiếc điện thoại Iphone 11 ProMax có vỏ màu vàng, ốp nhựa trắng của mình ở hốc để đồ bên dưới tay lái bên trái của xe máy. Lúc này, Nguyễn Thị T cũng gửi xe máy ở khu vực sân sau Bưu điện X và vừa say bột trong chợ X1 đi ra để lấy xe đi về. Khi đang lấy xe máy của mình, T phát hiện bên hốc trái của xe H1, BKS: 29V1- 70476 của chị Hoàng Thị B1 phát ra tiếng chuông điện thoại kêu, T quan sát thì thấy trong hốc để đồ của xe có 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max màu vàng đang để trong đó. T quan sát xung quanh không thấy ai và không ai để ý, liền nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại này để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Ngay sau đó, T cầm lấy chiếc điện thoại trong hốc để đồ của xe máy Honda SH Mode, rồi mở cốp xe máy Honda Wave của T cất điện thoại Iphone 11 Pro Max vừa lấy được vào cốp xe và đi thẳng về nhà.

Khi về đến nhà, Nguyễn Thị T liền đưa chiếc điện thoại Iphone 11 ProMax đưa cho con trai là D nhờ tháo hộ sim của điện thoại ra. D cầm điện thoại T đưa và hỏi điện thoại của ai, ở đâu mà có thì T nói “Con cứ tháo sim ra cho mẹ, không cần hỏi điện thoại của ai”. Sau khi D tháo được sim ra, T nhập thử mật khẩu để mở khóa màn hình nhưng không mở được và mở sai nhiều lần nên điện thoại bị vô hiệu hóa. Thấy vậy, Nguyễn Thị T đã đem chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max đến cửa hàng T2 ở thôn B, xã Y, huyện B gặp anh Nguyễn Thanh T1 chủ cửa hàng và nói với anh T1: “Điện thoại này của bố em, bố em chết hơn 01 năm nay rồi, nhưng em không biết mật khẩu của ông nên nhờ anh mở khoá hộ em”, anh Nguyễn Thanh T1 kiểm tra và nói rằng “Máy này chưa mở được muốn mở phải hai đến ba ngày mới mở được và phải mất phí 2.500.000 đồng”. Nghe vậy, T đã hỏi bán chiếc điện thoại cho anh T1 và anh T1 đồng ý mua chiếc điện thoại với giá 700.000 đồng. T cầm tiền bán điện thoại và đi về nhà nhưng nghĩ đến việc chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max bán cho anh T1 không mở khóa được mà lại có định vị nên sợ sẽ bị phát hiện nên sau đó T đã quay lại cửa hàng điện thoại của anh T1 mua lại chiếc điện thoại Iphone 11 P vừa bán với giá 850.000 đồng.

Đến buổi chiều cùng ngày, anh Nguyễn Quốc H (SN: 1981, TT: Thôn M, xã Y, huyện B) là chồng của chị Hoàng Thị B1 đã sử dụng dịch vụ định vị icloud đối với chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max của chị B1 và xác định được vị trí cuối cùng tại nhà của Nguyễn Thị T tại Thôn Q, xã Y, huyện B, Hà Nội và cung cấp cho Công an phường X để cùng phối hợp Công an xã Y truy tìm điện thoại của chị B1 theo vị trí định vị.

Khoảng hơn 18 giờ 00 phút ngày 18/8/2024, Công an phường X, TX S phối hợp cùng Công an xã Y, B đến nhà T làm việc, T đã khai nhận hành vi trộm cắp của mình và giao nộp chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max và điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A17 màu xanh, IMEI 1: 864567063810375, IMEI 2: 864867063810367, lắp sim số: 0375550891, của T để phục vụ công tác điều tra.

Ngày 20/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S ra yêu cầu định giá số 2784/YC-ĐCSHS ngày 20/8/2024, yêu cầu định giá chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max của chị Hoàng Thị B1. Kết luận định giá tài sản số 78/KL-HĐĐGTS ngày 09/09/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S kết luận giá của 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max, màu vàng, bên ngoài có ốp silicon trong suốt, bên trong không lắp sim điện thoại, ở góc trên bên trái có vết nứt, vỡ kính nhỏ; giữa màn hình có vết kẻ sọc, số máy MWH12LL/A, seri: G6TCR03MN70F; 64GB, đã qua sử dụng của chị Hoàng Thị B1 bị trộm cắp trị giá 3.000.000 đồng.

Đối với anh Nguyễn Thanh T1 mua chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max của Nguyễn Thị T ngày 18/8/2024 và cháu Nguyễn Tiến D giúp Nguyễn Thị T tháo sim điện thoại nhưng anh T1, cháu D không biết điện thoại do Nguyễn Thị T trộm cắp được mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập đến hình thức xử lý đối với anh T1 và cháu D là đúng.

Đối với vật chứng là chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max là tài sản của chị Hoàng Thị B1, ngày 11/10/2024 Cơ quan điều tra đã trao trả cho chị Hoàng Thị B1. Đối với chiếc sim điện thoại số 0377.610.xxx của chị Hoàng Thị B1, sau khi Nguyễn Thị T nhờ con trai tháo ra, trên đường đi bán điện thoại Nguyễn Thị T đã vứt trên đường đi. Sau khi nhận lại điện thoại và đi làm lại chiếc sim điện thoại chị Hoàng Thị B1 không có yêu cầu đề nghị về phần dân sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá tài sản.

Tại bản cáo trạng số 117/CT – VKS ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Thị T về tội:“ Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng vì bị cáo kinh tế khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định. Về bồi thường dân sự: Không xem xét; Về án phí bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì khác về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại giai đoạn điều tra, truy tố, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị T đã khai nhận tòa bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, lời khai của bị hại cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Sáng ngày 18/08/2024, tại sân sau của Bưu Điện X thuộc phường X, thị xã S, Hà Nội, bị cáo Nguyễn Thị T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro M, vỏ màu vàng, trị giá 3.000.000 đồng của chị Hoàng Thị B1. Hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người đúng tội.

[3] Xét hành vi phạm tội trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi và bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo, đó là những tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự. Do vậy, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Ngày 22/8/2014, Tòa phúc thẩm của TAND tối cao tại TP HCM xử phạt Nguyễn Thị T 10 năm tù về tội Giết người. Hình phạt bổ sung chưa chấp hành xong. Nay bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an thị xã S đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản mà bị cáo T trộm cắp cho bị hại và bị hại không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không phải xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng:

Cơ quan điều tra đã trao trả tài sản cho bị hại nên Hội đồng xét xử không phải xem xét. Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A17 màu xanh không liên quan đến vụ án, nên cơ quan điều tra Công an thị xã S đã trả lại cho bị cáo là đúng.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 09 (Chín) tháng tù về Tội trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

*Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân TP Hà Nội;

  • - VKSND TX Sơn Tây;

  • - Chi cục THADS TX Sơn Tây;

  • - Các Bị cáo;

  • - Lưu HS vụ án + VPTA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2024/HSST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY - HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 116/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger