Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2024/HS-ST

Ngày: 28-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Vũ Thị Thanh Phương

Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thanh Nhàn và bà Lê Thị Thu Anh.

Thư ký phiên tòa:

+ Tại điểm cầu trung tâm: bà Nguyễn Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

+ Tại điểm cầu thành phần: ông Nguyễn Hoàng S - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà:

+ Tại điểm cầu trung tâm: bà Tạ Thị H - Kiểm sát viên.

+ Tại điểm cầu thành phần: ông Đặng Đức A- chuyên viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 105/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024. Phiên tòa được xét xử trực tuyến tại 02 điểm cầu, điểm cầu trung tâm là Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh (địa chỉ: số C, đường H, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh); điểm cầu thành phần là Nhà tạm giữ Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh (địa chỉ: số A, phố D, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh) đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Văn T; sinh ngày: 22/6/1982, tại M, Quảng Ninh; nơi cư trú: khu Đ, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn Đ (đã chết) và bà Bùi Thị H1; có vợ: Bùi Thị Xuân L; con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2004 nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: chưa có. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 12/9/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M. Có mặt.

Người chứng kiến: anh Nguyễn Văn C. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Văn T là đối tượng nghiện ma túy heroine, khoảng 10 giờ ngày 12/9/2024, khi T đang ở nhà thì nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên đã gọi điện cho một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) hỏi mua 1.000.000đ tiền ma túy heroine để sử dụng thì người này đồng ý và hẹn T đến giao dịch ở gầm cầm Hòa Bình thuộc phường K, thành phố M. T đi xe ôm từ nhà đến điểm hẹn, tại đây người đàn ông giao cho T 01 giấy màu trắng, T đưa cho người đàn ông 1.000.000₫ và người đàn ông yêu cầu T xóa danh bạ và cuộc gọi của người này khỏi máy điện thoại của T; sau đó T đi bộ về hướng phường N để tìm chỗ sử dụng ma túy, đến khoảng 11 giờ cùng ngày T đang đi đến trước cửa số nhà B T, khu F, phường K thì bị tổ công tác của đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố M phối hợp với Công an phường K, Công an phường H kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng.

Bản kết luận giám định số 1064/KL-KTHS ngày 13/9/2024, của Phòng K Công an thành phố H kết luận: chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy; Loại: heroine; Khối lượng: 0,27 gam (không phẩy hai bẩy gam).

Tại phiên tòa bị cáo có lời khai phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp lời khai của người chứng kiến anh Nguyễn Văn C về việc được chứng kiến lực lượng Công an tiến hành kiểm tra hành chính đối với bị cáo và thu giữ vật chứng là 01 gói ma túy và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh.

Bản Cáo trạng số 2179/CT-VKSMC, ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đã truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã giữ nguyên quyết định truy tố và luận tội đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/9/2024.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy số ma tuý hoàn lại sau giám định, vỏ bao gói; tịch thu nộp Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, đã qua sử dụng; tịch thu tiêu hủy 01 sim có số thuê bao 0976.611.254.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: tại phiên toà bị cáo T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: vật chứng thu giữ, bản ảnh vật chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và lời khai của người chứng kiến anh Nguyễn Văn C. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: hồi 11 giờ 00 phút, ngày 12/9/2024, tại khu F, phường K, thành phố M, bị cáo Đặng Văn T có hành vi cất giấu trái phép 0,27 gam (không phẩy hai bẩy gam) heroine, mục đích để sử dụng, thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức rõ tác hại của ma túy nhưng do thiếu tu dưỡng rèn luyện bị cáo đã nghiện ma túy và nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã bất chấp quy định cấm của nhà nước mà vẫn mua, sử dụng ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, vì vậy cần xử lý nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[3] Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét bị cáo nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

Số ma túy còn lại sau giám định là 0,18g (không phẩy mười tám gam) + vỏ bao gói được niêm phong trong 01 phong bì theo đúng quy định của pháp luật, là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu vivo màu xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai có sử dụng chiếc điện thoại trên để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước; đối với 01 sim có số thuê bao 0976.611.254 gắn trong điện thoại không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Xét những chứng cứ mà Kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được cơ quan điều tra thu thập theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng Hình sự quy định; tại phiên Tòa bị cáo cũng đã thừa nhận thực hiện hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát, nên lời buộc tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm: cần buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.

[10] Liên quan trong vụ án có đối tượng đã bán ma túy cho T quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý, nên Hội đồng xét xử không đề cập.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Đặng Văn T 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 12/9/2024.

2. Về xử lý vật chứng: căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, còn nguyên vẹn, không rách nát. Mặt trước phong bì ghi: “Công an T. Phòng K. Số: 1064 MT/PC09. Vật chứng hoàn trả. Gửi CSĐT-CATP M, Quảng Ninh. Hoàn trả 0,18g chất bột + vỏ bao gói”

Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, số Imei 1: 866816050690025, số Imei 2: 866816050690033. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong.

Tịch thu tiêu hủy 01 sim gắn số 0976.611.254.

(Tình trạng số vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng số 13/2025/THA, ngày 31 tháng 10 năm 2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh).

3. Về nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm: căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đặng Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Đặng Văn T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; ngày 28/11/2024.

5. Về quyền kháng nghị: Căn cứ Điều 336, khoản 1 Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự: Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tuyên án; ngày 28/11/2024.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Móng Cái;
  • - CQĐT Công an thành phố Móng Cái;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái;
  • - Thi hành án HS+DS;
  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu án văn + Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thanh Phương

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Lê Thanh Nhàn

Lê Thị Thu Anh

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thanh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 116/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn Trung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger