|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 116/2024/HS-ST Ngày 27/11/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Nghiệp Hồng
- Bà Nguyễn Ngọc Thảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thanh Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Ông Lê Đức Huy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại Phòng xử án hình sự, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 125/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Huỳnh Tiến V; sinh ngày 15/8/1994, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú: E T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Tấn T và bà Huỳnh Thị Kim C; tiền án: Ngày 15/8/2023 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 115/2023/HSST; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 23/3/2015 bị Tòa án nhân dân Quận 11 xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 24/2015/HSST; đã chấp hành xong hình phạt và thuộc trường hợp đã xóa án tích; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/8/2024, tại Nhà tạm giữ Công an Q; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Tất Thiệu V1; địa chỉ: C T, Phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1994; địa chỉ: Hộ khẩu thường trú: 1 B, Phường E, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Tạm trú: 1 N, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Ngọc T1; địa chỉ: G Đường C, Phường G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Ngọc P; địa chỉ: B H, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 08/8/2024, đối tượng Huỳnh Tiến V đặt xe Grab từ nhà trọ của bạn gái (nam chuyển giới) là Nguyễn Ngọc M (sinh năm 1994; trú tại: 1 N, phường A, quận B) đến khu vực chợ B, Phường A, Quận A. Sau đó, đối tượng V đi bộ lòng vòng sang khu vực Phường H, Quận A với mục đích tìm nhà có tài sản sơ hở để lấy trộm. Khoảng 02 giờ cùng ngày, khi đi đến nhà của ông Tất Thiệu V1 tại số C T, Phường H, Quận A, đối tượng V thấy cửa sổ ở lầu 1 mở và không có rào sắt bảo vệ, đối tượng V quan sát thấy căn nhà bên cạnh số C T, Phường H, Quận A có một cây xanh nên đôi tượng Vũ trèo lên cây này, đi trên mái tôn đến hành lang lầu 1 nhà số C T. Đối tượng V theo lối cửa sổ đã mở sẵn leo vào bên trong phòng số 2. Trong phòng lúc này có ông Tất Thiệu V1, bà Lữ Trần Mỹ L và hai trẻ nhỏ con của ông V1 đang nằm ngủ trên giường, dưới sàn nhà. Đối tượng V đi đến mở ngăn tủ kéo trên cùng được đặt cạnh giường ngủ thì thấy một ví nam nên lấy bỏ vào trước bụng. Đối tượng V đi đến vị trí của ông V1 đang ngủ trên giường thấy có một máy điện thoại di động Samsung Galaxy A24 để trên đầu giường nằm nên lấy bỏ vào túi quần, rồi leo ra ngoài hành lang. Đối tượng V lấy ví ra kiểm tra thì thấy bên trong có số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) và 01 miếng vàng nên lấy bỏ vào túi quần, riêng ví và các giấy tờ thì đối tượng V để lại ở hành lang. Sau đó, Đối tượng V theo đường cũ trèo xuống đất và đi bộ ra hướng đường Đội Cung rồi đặt xe G đi uống cà phê ở gần bến xe C.
Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 08/8/2024, ông V1 ngủ dậy chuẩn bị đi làm thì phát hiện tài sản trong phòng bị mất trộm gồm: T4 là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng); 02 (hai) chỉ vàng miếng SJC mua năm 2010 giá 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng); 01 (một) điện thoại di động hiệu S Galaxy A24 mua mới vào tháng 07/2023 tại Thế giới di động với giá là 6.690.000 đồng (sáu triệu sáu trăm chín mươi ngàn đồng). Tiền và 02 chỉ vàng miếng để trong bóp cá nhân của ông V1, để trong hộc bàn cạnh giường ngủ. Đến khoảng 14 giờ 15 phút ngày 08/8/2024, ông V1 đến Công an P1, Quận A trình báo sự việc.
Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 08/8/2024, đối tượng V về lại phòng trọ ở tại số A N, phường A, quận B kiểm tra thì biết được máy điện thoại di động chiếm đoạt là máy hiệu Samsung, màu đen, sau đó đối tượng V có nói với ông Nguyễn Ngọc M là nhặt được miếng vàng và hẹn sáng sẽ đem đến tiệm vàng để thử bán. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, đối tượng V đi cùng ông M đến cửa hàng điện thoại di động Bá T2 tại địa chỉ số G Đường C T, Phường G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, đối tượng V nói ông M ở bên ngoài chờ đối tượng V vào mua Card điện thoại đi động nhưng thực chất là đem máy điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A24 lấy trộm được bán với giá 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm ngàn đồng). Sau đó, đối tượng V cùng ông M đến tiệm V2 tại địa chỉ số B H, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để bán miếng vàng. Đối tượng V ở ngoài giữ xe, ông M cầm miếng vàng đi vào trong gặp nhân viên để bán. Nhân viên kiểm tra và thông báo miếng vàng trên có trọng lượng 2 chỉ SJC mua vào với giá 14.960.000 đồng (mười bốn triệu chín trăm sáu mươi ngàn đồng). Sau đó, đối tượng V chở ông M đi ăn. Khi về đến phòng trọ, ông M đưa số tiền bán vàng cho đối tượng V. Đối tượng V đưa cho ông M 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) để ông M đóng tiền phòng trọ. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 09/8/2024, đối tượng V đang ở phòng trọ cùng với ông M thì Công an mời về trụ sở để làm việc. Số tiền còn lại đối tượng V đã tiêu xài cá nhân hết.
Ông Nguyễn Ngọc M thừa nhận hoàn toàn không biết miếng vàng trên do bị can Huỳnh Tiến V phạm tội mà có. Chỉ đến khi cơ quan công an đến nhà trọ mời bị can V và ông M về trụ sở Công an để làm việc thì ông M mới biết miếng vàng mà bị can V đưa cho ông M đi bán là tài sản do bị can V lấy trộm tại nhà số C T, Phường H, Quận A ngày 08/8/2024. Ông Nguyễn Ngọc M tự nguyện giao nộp lại cho Cơ quan điều tra số tiền do bị can V đưa là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).
Ông Đặng Ngọc T1 (sinh năm 1982; hộ khẩu thường trú: Khu C, thị Trấn C, huyện H, tỉnh Nam Định) chủ cửa hàng Đ (số G Đường 3 tháng 2, Phường G, Quận A) là người mua điện thoại của bị can V. Bị can V nói với ông T1 máy điện thoại di động là của vợ bị can V. Ông T1 xem máy điện thoại và báo giá mua 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm ngàn đồng), bị can V đồng ý bán. Sau đó, bị can V cầm tiền và rời khỏi cửa hàng. Sau khi được Cơ quan điều tra mời làm việc ông T1 mới biết người bán điện thoại cho ông T1 tên là Huỳnh Tiến V. Ông T1 hoàn toàn không biết đây là tài sản do bị can Huỳnh Tiến V phạm tội mà có. Ông T1 đã tự nguyện giao nộp lại chiếc điện thoại di động đã thu mua của bị can Huỳnh Tiến V cho cơ quan điều tra và không yêu cầu gì khác.
Bà Trần Thị Ngọc P (sinh năm 1990; hộ khẩu thường trú: 2 Đ, Phường A, Quận D) làm việc tại cửa hàng kinh doanh vàng T, tại địa chỉ số B H, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, là người mua vàng của ông M. Sau khi được cơ quan Công an mời làm việc, bà P mới biết người bán vàng cho bà tên là Nguyễn Ngọc M. Khi mua vàng, bà P hoàn toàn không biết đây là tài sản do phạm tội mà có. Bà P tự nguyện giao nộp lại miếng vàng đã thu mua ông Nguyễn Ngọc M cho cơ quan điều tra và không yêu cầu gì khác.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 52/KL-HĐĐGTS ngày 04/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A kết luận:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A24 màu đen dung lượng 128Gb đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá vào ngày 04/9/2024 là 2.585.000 đồng (hai triệu năm trăm tám mươi lăm ngàn đồng).
- 01 miếng vàng tinh khiết, hình chữ nhật, kích thước 1,57cm x 2,57cm, có dòng chữ “SAI GON JEWELRY COMPANY SJC RỒNG VÀNG 999,9 FINE GOLD Công ty V3 (02 chỉ)” tại thời điểm định giá vào ngày 04/9/2024 là 15.300.000 đồng (mười lăm triệu ba trăm ngàn đồng).
Vật chứng thu giữ bao gồm:
- Một điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A24 màu đen dung lượng 128Gb đã qua sử dụng. Đây là tài sản của ông Tất Thiệu V1 bị Huỳnh Tiến V chiếm đoạt (do ông Đăng Ngọc T3 giao nộp). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại Tất Thiệu V1.
- Một miếng vàng tinh khiết, hình chữ nhật, kích thước 1,57cm x 2,57cm, có dòng chữ “SAI GON JEWELRY COMPANY SJC RỒNG VÀNG 999,9 FINE GOLD Công ty V3 (02 chỉ); một giấy biên lai mua hàng, mã đơn số 00607SO23070208261 do bà Trần Thị Ngọc P giao nộp. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại Tất Thiệu V1.
- Số tiền bán điện thoại di động, vàng và tiền chiếm đoạt trong ví của ông Tất Thiệu V1, theo bị can V trình bày là 17.160.000 đồng, bị can cho ông Nguyễn Ngọc M 4.000.000 đồng, số tiền còn lại là 13.160.000 đồng bị can đã tiêu xài cá nhân hết nên Cơ quan CSĐT không thu hồi được.
- Tiền Việt Nam 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) do ông Nguyễn Ngọc M tự nguyện giao nộp. Đây là tiền do bị can Huỳnh Tiến V cho ông M do bán vàng mà có.
- Một áo thun ngắn tay màu đen, một quần jean dài màu đen. Đây là trang phục bị can Huỳnh Tiến V mặc trên người vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội.
- Một đĩa CD ghi hình ảnh bị can Huỳnh Tiến V đi bán điện thoại di động và ông Nguyễn Ngọc M đi bán miếng vàng vào ngày 08/8/2024 (Lưu hồ sơ vụ án).
- Một máy điện thoại di động hiệu Oppo A54 màu xanh đã qua sử dụng, là tài sản cá nhân của bị can Huỳnh Tiến V.
Về trách nhiệm dân sự: Ban đầu khi trình báo sự việc, ông Tất Thiệu V1 xác định trong ví bị trộm cắp có 9.000.000 đồng (chín triệu đồng). Tuy nhiên, quá trình điều tra, ông V1 xác định số tiền bị chiếm đoạt là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Nay ông Tất Thiệu V1 yêu cầu bị can V bồi thường 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
Tại Bản cáo trạng số 127/CT-VKSQ11 ngày 28/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị can Huỳnh Tiến V tội danh “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Tiến V có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Bị hại là ông Tất Thiệu V1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền bị chiếm đoạt là 3.000.000 đồng.
Bị cáo Huỳnh Tiến V đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền là 3.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Ngọc M có mặt tại phiên tòa và có lời khai phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đặng Ngọc T1 và bà Trần Thị Ngọc P vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Ông Đặng Ngọc T1 và bà Trần Thị Ngọc P không có yêu cầu gì đối với bị cáo Huỳnh Tiến V.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù và đề nghị xử lý vật chứng như sau:
- Lưu vào hồ sơ vụ án một đĩa CD ghi hình ảnh bị cáo Huỳnh Tiến V đi bán điện thoại di động và ông Nguyễn Ngọc M đi bán miếng vàng vào ngày 08/8/2024.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền Việt Nam 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).
- Tịch thu, tiêu hủy một áo thun ngắn tay màu đen, một quần jean dài màu đen.
- Trả lại cho bị cáo Huỳnh Tiến V một máy điện thoại di động hiệu Oppo A54 màu xanh.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đề nghị giải quyết phần trách nhiệm dân sự như sau: Buộc bị cáo Huỳnh Tiến V bồi thường cho ông Tất Thiệu V1 số tiền là 3.000.000 đồng.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vào lúc 02 giờ 00 phút ngày 08/8/2024, tại địa chỉ nhà số C T, Phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Huỳnh Tiến V đã có hành vi lén lút chiếm đoạt một máy điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A24 màu đen, dung lượng 128Gb có giá 2.585.000 đồng (hai triệu năm trăm tám mươi lăm ngàn đồng), một miếng vàng SJC (trọng lượng 02 chỉ) có giá 15.300.000 đồng (mười lăm triệu ba trăm ngàn đồng) và 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) tiền mặt của ông Tất Thiệu V1.
Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 20.885.000 đồng (hai mươi triệu tám trăm tám mươi lăm ngàn đồng).
Bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi, lười lao động bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.
[2] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[3] Về việc xem xét không phạt tiền bổ sung đối với bị cáo:
Bị cáo Huỳnh Tiến V không có việc làm có thu nhập nên không đảm bảo khả năng chấp hành án khoản nộp phạt tiền; do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự để phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Về xử lý vật chứng:
- Đối với vật chứng là một đĩa CD ghi hình ảnh bị cáo Huỳnh Tiến V đi bán điện thoại di động và ông Nguyễn Ngọc M đi bán miếng vàng vào ngày 08/8/2024 do Công an P1, Quận A và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q trích xuất camera và lưu vào hồ sơ vụ án. Căn cứ khoản 2 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Q xử lý lưu vào hồ sơ vụ án là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với vật chứng là một giấy biên lai mua hàng, mã hóa đơn số 00607SO23070208261. Đây là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử giải quyết đưa vào hồ sơ vụ án.
- Đối với vật chứng là một điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A24 màu đen dung lượng 128Gb đã qua sử dụng. Đây là tài sản của ông Tất Thiệu V1 bị Huỳnh Tiến V chiếm đoạt (do ông Đăng Ngọc T3 giao nộp). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại Tất Thiệu V1. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật nên không giải quyết lại.
- Đối với vật chứng là một miếng vàng tinh khiết, hình chữ nhật, kích thước 1,57cm x 2,57cm, có dòng chữ “SAI GON JEWELRY COMPANY SJC RỒNG VÀNG 999,9 FINE GOLD Công ty V3 (02 chỉ); một giấy biên lai mua hàng, mã đơn số 00607SO23070208261 do bà Trần Thị Ngọc P giao nộp. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại Tất Thiệu V1. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật nên không giải quyết lại.
- Đối với vật chứng là số tiền bán điện thoại di động, vàng và tiền chiếm đoạt trong ví của ông Tất Thiệu V1 với tổng số tiền là 17.160.000 đồng, bị cáo đã cho ông Nguyễn Ngọc M 4.000.000 đồng, số tiền còn lại là 13.160.000 đồng bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q không thu hồi được; bị cáo không có tài sản và không có thu nhập để thi hành khoản nộp lại khoản tiền thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử không buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 13.160.000 đồng.
- Đối với vật chứng là số tiền Việt Nam 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) do ông Nguyễn Ngọc M tự nguyện giao nộp. Đây là tiền do bị cáo Huỳnh Tiến V cho ông M do bán vàng chiếm đoạt của bị hại mà có, là khoản tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với vật chứng là một áo thun ngắn tay màu đen, một quần jean dài màu đen. Đây là trang phục bị cáo Huỳnh Tiến V sử dụng thực hiện hành vi phạm tội. Vật chứng không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với vật chứng là một máy điện thoại di động hiệu Oppo A54 màu xanh, là tài sản cá nhân của bị cáo Huỳnh Tiến V, không dùng vào việc phạm tội. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết trả lại cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Ông Tất Thiệu V1 yêu cầu bị cáo V bồi thường 3.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường cho ông V1 nên Hội đồng xét xử ghi nhận, buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Tất Thiệu V1 số tiền là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
Ông Đặng Ngọc T1 và bà Trần Thị Ngọc P là người nhận mua máy điện thoại di động và vàng do bị cáo Huỳnh Tiến V chiếm đoạt được nhưng không biết đây là tài sản do bị cáo Huỳnh Tiến V trộm cắp mà có; ông T1 và bà P đã giao nộp lại tài sản đã mua của bị cáo nhưng không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã trả cho bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về xem xét hành vi của các đối tượng khác có liên quan đến vụ án:
Đối với ông Đặng Ngọc T1, bà Trần Thị Ngọc P là người nhận mua máy điện thoại di động và vàng do bị cáo Huỳnh Tiến V chiếm đoạt được và ông Nguyễn Ngọc M là người cùng với bị cáo V mang vàng đi bán, do ông T1, bà P và ông M đều không biết đây là tài sản do bị cáo Huỳnh Tiến V trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q không truy cứu trách nhiệm hình sự là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.
[6] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Huỳnh Tiến V, điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
[7] Về án phí:
Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tiến V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Tiến V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 12/8/2024.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Lưu vào hồ sơ vụ án một đĩa CD ghi hình ảnh bị cáo Huỳnh Tiến V đi bán điện thoại di động và ông Nguyễn Ngọc M đi bán miếng vàng vào ngày 08/8/2024.
- Tịch thu, tiêu hủy vật chứng là một áo thun ngắn tay màu đen, một quần jean dài màu đen (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 9108688/LNK-ĐTTH ngày 13/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền Việt Nam 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 9108688/LNK-ĐTTH ngày 13/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).
- Trả lại cho bị cáo Huỳnh Tiến V vật chứng là một máy điện thoại di động hiệu Oppo A54 màu xanh (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 9108688/LNK-ĐTTH ngày 13/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).
Căn cứ Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Buộc bị cáo Huỳnh Tiến V bồi thường cho ông Tất Thiệu V1 số tiền là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Án phí dân sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Cơ Dũng |
Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 116/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
