Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 116/2024/HS-ST

Ngày 25 tháng 11 năm 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Vi Thị Hương Giang;

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Công Sỹ, ông Đặng Bình Minh.

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Tĩnh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên toà: Ông Phùng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 114/2024/HSST ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/HSST-QĐ ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Tăng Văn N, sinh năm 1995; tên gọi khác: không; giới tính: nam.

    Nơi cư trú: thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    Nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Sán dìu; tôn giáo: không; con ông Tăng Văn P, sinh năm 1966 và con bà: Thân Thị T, sinh năm 1966; vợ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1994 và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 30 ngày 27/8/2013 của Công an thành phố B, tỉnh Bắc Giang xử phạt Tăng Văn N số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh nhau gây thương tích”, bị cáo chưa chấp hành việc nộp phạt nhưng đã hết thời hiệu thi hành.

    Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

  2. Dương Văn T1, sinh năm 2002; tên gọi khác: không; giới tính: nam

    Nơi cư trú: thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang

    Nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Dương Văn M1 (đã chết) và con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1971; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không có.

    Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2024, đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1994; nơi cư trú: thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
  • - Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1997; nơi cư trú: thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
  • - Anh Nguyễn Kim T2, sinh năm 1986; địa chỉ:TDP H, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

4. Người chứng kiến:

  • - Chị Bùi Thị H1 (vắng mặt).
  • - Anh Kim Công Đ1 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong ngày 27/6/2024, N đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Dương Văn T1 tại nhà của mình, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 27/6/2024, N đang ở nhà thì Dương Văn T1 dùng tài khoản Messeger tên “Dương Văn T1” đăng nhập trên điện thoại di động Iphone gọi cho tài khoảnMesseger tên “Chung Dinh” của Tăng Văn N hỏi mua 300.000 đồng tiền ma túy “đá” để sử dụng thì N đồng ý và bảo T1 đến nhà N lấy. Sau khi hỏi mua ma túy xong, T1 đi xetaxi của một người đàn ông (T1 không rõ họ, tên, địa chỉ và biển số xe) từ nhà đến trước cửa nhà N thì T1 bảo người lái xe dừng xe đứng đợi ở ngoài đường, còn T1 đi bộ đến trước cửa nhà N thì N đi từ trong nhà ra đưa cho T1 01 túi nilon bên trong có đựng ma túy “đá”. T1 cất ma túy vào túi quần bên phải đang mặc rồi dùng ứng dụng Banking cài đặt trên điện thoại của mình chuyển khoản số tiền 300.000 đồng từ tài khoản số 1020059102 của T1 mở tại Ngân hàng Vietcombankvào số tài khoản 2227855555 của N mở tại ngân hàng T6 để trả tiền mua ma túy. Sau khi nhận được tiền, N đi vào nhà ngủ còn T1 đi ra xe taxi đi về nhàvà sử dụng hết số ma túy mua được rồi đi ngủ.

Lần thứ hai: Khoảng 10 giờ cùng ngày 27/6/2024, Dương Văn T1 dùng tài khoản M2 gọi cho Tăng Văn N hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy đá và ma túy hồng phiến để sử dụng thì N đồng ý và bảo T1 đến nhà N để lấy ma túy. Sau đó, T1 đem theo 01 chiếc tẩu để hút ma túy rồi đi xetaxi của một người đàn ông (T1 không rõ họ, tên, địa chỉ và biển số xe) từ nhà đến trước cửa nhà N thì T1 bảo người lái xe dừng xe lại đứng đợi ở ngoài đường để T1 xuống xe đi vào trong nhà gặp N mua ma túy. Khi gặp nhau, N đưa cho T1 01 túi nilon bên trong có ma túy “đá” và 01 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu bên trong có 03 viên ma túy hồng phiến. Sau khi nhận được ma túy, T1 cất vào túi quần bên phải phía trước đang mặc và chuyển khoản trả tiền mua ma túy cho N như lần trước rồi ra xe Taxi đi đến khu vực thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang tìm chỗ sử dụng ma túy.

Khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày, khi đi đến quán C, ở tổ dân phố T, thị trấn V, huyện L, T1 xuống xe đi bộ vào quán để mua nước và tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng thu giữ gồm:

  • - 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, bên trong đựng tinh thể màu trắng, nghi là ma túy;
  • - 01 đoạn ống nhựa màu hồng được hàn kín hai đầu, bên trong có 03 viên nén màu hồng đỏ, nghi là ma túy (Số ma túy này, khi bị lực lượng công an phát hiện T1 sợ quá nên làm rơi từ tay trái T1 rơi ra tại nền nhà tầng 1 của quán), tất cả số vật chứng nghi là ma túy được cho vào phong bì dán kín niêm phong kí hiệu “QT”.

Ngoài ra, tổ công tác còn thu trên người của T1: 05 ống hút nhựa thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của Dương Văn T1 đang mặc; 01 tẩu (coóng) bằng thủy tinh thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của Dương Văn T1 đang mặc; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone, màu vàng, số IMEL 353343077800180, được niêm phong trong phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “ĐT” và 01 căn cước công dân số [...] tênDương Văn Thọ.

Hồi 12 giờ ngày 27/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (Cơ quan điều tra) tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Tăng Văn N thì phát hiện và thu giữ bêntrong phòng ngủ trên tầng 02 nhà Ngọa: 01 ống bằng giấy cứng, bên trong đựng nhiều đoạn ống hút nhựa và 01 căn cước công dân của Tăng Văn N; Thu giữ tại mắt camera lắp ở cửa nhà N: 01 thẻ nhớ màu đen 64GB và niêm phong chiếc thẻ nhớ này ký hiệu “KX Thẻ nhớ”.Ngoài ra,Cơ quan điều tra còn thu giữ: 02 chiếc điện thoại di động Iphone màu vàng,có số IMEI 356571081969149 và số IMEL 35539007354121, đồng thời niêm phong hai chiếc điện thoại này trong phog bì ký hiệu “KX điện thoại”.

Hồi 15 giờ ngày 27/6/2024, Tăng Văn N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đầu thú và khai nhận về hành vi bán trái phép chất ma túy cho Dương Văn T1 như trên. Ngoài ra, N khai số ma túy bán cho T1 là N mua của Nguyễn Kim T2, sinh năm 1986, trú tại tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Cùng thời điểm này, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Dương Văn T3 không thu giữ được đồ vật, tài liệu liên quan đến việc tàng trữ sử dụng trái phép chất ma túy.

Hồi 16 giờ ngày 27/6/2024, Cơ quan điều tra kiểm trachiếc điện thoại di động hiệu Iphone, có số IMEL 353343077800180 thu giữ của T1 và 02 chiếc điện thoại Iphone có số IMEI 356571081969149 và số IMEL 35539007354121thu giữ của N, kết quả xác định: Tại ứng dụng ngân hàng cài đặt trên 03 chiếc điện thoại trên có phát sinh giao dịch chuyển và nhận tiền mua bán ma túy phù hợp với lời khai của T1 và N.

Hồi 17 giờ 30 phút ngày 27/6/2024, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra dữ liệu trong chiếc thẻ nhớ màu đen 64GB thu giữ tại camera lắp ở cửa nhà N, kết quả xác định: Camera có ghi lại hình ảnh và thời gian T1 đến mua ma tuý.

Tại Kết luận giám định số 1453/KL-KTHS ngày 02/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

“Trong 01 phong bì có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định:

  • - Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, có khối lượng 0,252 gam, loại Methamphetamine.
  • - 03 viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu hồng được hàn kín hai đầu là ma túy, có tổng khối lượng 0,290 gam, loại Methamphetamine”.

Ngày 06/7/2024, Cơ quan điều tra tiến hành tạm giữ: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng, gắn sim số 0352.954.078, số Imei0355646070935888 của Nguyễn Kim T2 và tiến hành kiểm tra đối với chiếc điện thoại này thì xác định: Tại danh bạ cuộc gọi, tin nhắn và tài khoản Zalo, F không phát hiện cuộc gọi, tin nhắn liên quan đến việc mua bán ma túy.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Tăng Văn N, Dương Văn T1 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như cáo trạng truy tố.

Tại bản cáo trạng số: 114/CT-VKS ngày 01 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Tăng Văn N, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Dương Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Tăng Văn N từ 07 (bẩy) năm đến 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù, về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/6/2024.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Dương Văn T1 từ 01 (một) năm 01 (một) năm 03 (ba) tháng, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/6/2024.

Ngoài ra còn xử lý về vật chứng, về án phí và các vấn đề khác.

Các bị cáo Tăng Văn N, Dương Văn T1 nói lời nói sau cùng: Các bị cáo N, T1 biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải và mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.

[2].Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến đều vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, tuy nhiên họ vắng mặt không có lý do, xét thấy quá trình giải quyết vụ án, có lời khai của họ đã có trong hồ sơ vụ án nên việc họ vắng mặt không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do đó căn cứ vào Điều 293, 176 của Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ.

[3]. Về hành vi và tội danh của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo Tăng Văn N, Dương Văn T1 thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể: Trong ngày 27/6/2024, tại nhà của Tăng Văn N ởthôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang, N đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Dương Văn T1, cụ thể: Lần thứ nhất: Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 27/6/2024, Tăng Văn N có hành vi bán cho Dương Văn T1 01 túi ma túy “đá” với giá 300.000 đồng, sau khi mua được ma túy T1 đem về nhà và sử dụng hết. Lần thứ hai: Khoảng 10 giờ cùng ngày 27/6/2024, Tăng Văn N có hành vi bán cho Dương Văn T1 0,542 gam ma túy, loại Methamphetamine với giá 500.000 đồng để T1 sử dụng. Khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày, khi T1 đem số ma túy mua được đến quán C, ở tổ dân phố T, thị trấn V, huyện L thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phát hiện, bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sau khi T1 bị bắt giữ N đến Cơ quan công an đầu thú về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét; kết luận giám định, phù hợp với lời khai tại cơ quan Điều tra cũng như vật chứng, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với không gian, thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội. Từ những phân tích nêu trên có đầy đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Tăng Văn N phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2

Điều 251 của Bộ luật hình sự, bị cáo Dương Văn T1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại Bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố các bị cáo N, T1 theo tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo N, T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, sau khi sự việc bị phát hiện bị cáo N đã đầu thú và có bà nội là Trần Thị T4 được tặng Huân chương khánh chiến hạng Nhất nên bị cáo N được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5]. Về hình phạt bổ sung bằng tiền: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251của BLHS đối với các bị cáo, tuy nhiên các bị cáo không có công ăn việc làm, không có tài sản, thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung bằng phạt tiền cho các bị cáo.

[6]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo Tăng Văn N, Dương Văn T1 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội, hành vi đó là rất nguy hiểm cho xã hội, ma túy là hiểm họa, là điều kiện gây ra sự suy thoái về đạo đức cũng là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Do đó, phải xử lý nghiêm, áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo đã thực hiện. Xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung tội phạm như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Khi quyết định lượng hình, HĐXX xem xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo.

[7]. HĐXX thấy cần tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 ngày là phù hợp với Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

[8]. Về các vấn đề khác:

- Đối với hành vi Dương Văn T1 mua 300.000 đồng ma túy đá của Tăng Văn N vào khoảng 03 giờ 30 phút ngày 27/6/2024, sau khi mua T1 đã sử dụng hết nên Cơ quan điều tra không xác định được khối lượng ma túy. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với T1 về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ở lần này.

- Đối với việc Tăng Văn N khainguồn gốc số ma túy Tăng Văn N bán cho Dương Văn T1 làmua của Nguyễn Kim T2,sinh năm 1986, trú tại: tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên, quá trình điều tra T2 không thừa nhận việc đã bán ma túy cho N, Cơ quan điều tra đã áp dụng hết các biện pháp điều tra và đã tiến hành cho N và T2 đối chất nhưng cả hai vẫn giữ nguyên lời khai của mình. Kết quả điều tra xác định, ngoài lời khai của Ngọa ra không còn tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh việc T2 là người bán ma túy cho N nên không đủ căn cứ để xử lý đối với T2 về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy.

- Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng tạm giữ của Nguyễn Kim T2. Do quá trình điều tra không xử lý đối với Nguyễn Kim T2 về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” nên ngày 21/10/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc điện thoại trên cho T2.

- Đối với người đàn ông lái xe T5 chở Dương Văn T1 đến nhà Tăng Văn N để mua ma túy. Quá trình điều tra T1 khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông này và không nhớ biển số xe nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh.

Đối với các vấn đề nêu trên, HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[9]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - 01 vỏ, bao và số ma tuý được hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 05 ống hút nhựa bên trong không đựng gì, 01tẩu (coóng) bằng thủy tinh đã qua sử dụng; 01 ống bằng giấy cứng, bên trong đựng nhiều đoạn ống nhựa nhiều màu khác nhau, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều không đựng gì là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động thu giữ của T1 là công cụ, phương tiện T1 dùng vào việc mua, sử dụng trái phép chất ma túy cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
  • - 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng, không có sim, có số IMEI: 356571081969149 là công cụ, phương tiện liên lạc với T1 để mua bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
  • - 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng IMEI: 355390073541241 không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo N.
  • - 01 căn cước công dân số [...] là giấy tờ tùy thân của T1 không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo T1.
  • - 01 căn cước công dân số [...], 01 thẻ nhớ 64 GB màu đen là tài sản, giấy tờ tùy thân của N không liên quan đến việc phạm tội trả lại cho bị cáo N.
  • - Đối với số tiền bị cáo N bán ma túy cho T1 02 lần, lần 1 là 300.000đ, lần 2 là: 500.000đ, tổng số tiền 800.000đ, xác định đây là số tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu nộp Ngân sách Nhà nước.

[10]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số: 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Tăng Văn N, Dương Văn T1 mỗi phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 331, khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Tăng Văn N;

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Dương Văn T1;

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số: 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án, xử:

2. Xử phạt bị cáo Tăng Văn N 07 (bẩy) năm tù, về tội: "Mua bán trái phép chất ma túy", thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/6/2024.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

3. Xử phạt bị cáo Dương Văn T1 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy", thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/6/2024.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

4. Về vật chứng:

  • - Trả bị cáo Tăng Văn N 01 căn cước công dân số [...] mang tên Tăng Văn N, 01 thẻ nhớ 64GB màu đen, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng, không có sim, có số IMEI: 356571081969149 nhưng tạm giữ để đảm bảo Thi hành án.
  • - Truy thu số tiền 800.000đ của bị cáo N để nộp Ngân sách Nhà nước.
  • - Trả lại bị cáo Dương Văn T1 01 căn cước công dân số [...] mang tên Dương Văn T1.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì dán kín niêm phong bằng dấu của Công an thị trấn V, L, Bắc Giang và Phòng K Công an tỉnh B, có chữ ký cùng họ tên những người tham gia, ký hiệu “QT”; 05 ống hút nhựa bên trong không đựng gì, 01tẩu (coóng) bằng thủy tinh đã qua sử dụng; 01 ống bằng giấy cứng, bên trong đựng nhiều đoạn ống nhựa nhiều màu khác nhau, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều không đựng gì.
  • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng IMEI: 353343077800180 của bị cáo T1; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng IMEI: 355390073541241 của bị cáo N.

(Đặc điểm vật chứng của vụ án theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang).

5. Về án phí: Buộc các bị cáo Tăng Văn N, Dương Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.iêQuyeets

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cường chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lạng Giang;
  • - Công an huyện Lạng Giang;
  • - CCTHADS huyện Lạng Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Những người TGTT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vi Thị Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 116/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tang Van Ngoa - Duong Van Tho
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger