|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 116/2024/HS-PT Ngày 22 - 11 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Danh.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hà;
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bích Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 121/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Khắc D và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 108/2024/HS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Các bị cáo có kháng cáo:
- Nguyễn Khắc D, sinh ngày 29 tháng 10 năm 1981 tại xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc Ổ (đã chết) và bà Nguyễn Thị K; có vợ là Nguyễn Thị H và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị tạm giữ từ ngày 22/3/2024 đến ngày 25/3/2024 thì được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, “có mặt”.
- Hoàng Hữu H1, sinh ngày 04 tháng 3 năm 1979 tại phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ dân phố M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Hữu H2 và bà Hoàng Thị X; có vợ và Lê Thị Bích P và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị tạm giữ từ ngày 22/3/2024 đến ngày 25/3/2024 thì được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, “có mặt”.
- Nguyễn Mạnh T, sinh ngày 06 tháng 02 năm 1991 tại phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: CH H tòa C, khu đô thị K, K, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đăng S (đã chết) và bà Vũ Thị T1; có vợ là Nguyễn Thị Thanh H3 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị tạm giữ từ ngày 22/3/2024 đến ngày 25/3/2024 thì được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, “có mặt”.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 03 bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Hoàng L, Nguyễn Khắc D, Hoàng Hữu H1, Lưu Văn C, Nguyễn Văn N và Nguyễn Mạnh T có mối quan hệ bạn bè, cùng làm việc tại Công ty C1, có địa chỉ tại thôn G, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 22/3/2024 D, C, T, N và L cùng nhau ăn cơm, uống rượu tại phòng bảo vệ Công ty C1. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày sau khi ăn uống xong N và T dọn dẹp, D, C, L ngồi uống nước thì có Huyên đến uống nước cùng. Sau đó D nói với mọi người “Làm tí sâm”, ý rủ mọi người đánh bạc thì tất cả đồng ý. Sau đó D, H1, T, L đi đến phòng bếp ăn cũ thuộc khu nhà điều hành Công ty C1 để đánh bạc. T lấy bộ bài tu lơ khơ 52 lá bài cũ có sẵn trong phòng rồi cùng D, H1, L ngồi quây tròn trên 01 tấm ga giường cũ bằng vải màu tím trải trên chiếc giường trong phòng đánh bạc.
Tất cả thống nhất đánh bạc bằng hình thức đánh sâm ăn tiền, cách chơi: Sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 lá bài, mỗi ván mỗi người chơi được chia 10 lá bài, người chia bài được đánh trước; cách tích thắng thua: Khi một người chơi hạ hết 10 lá bài trên tay là thắng; cách tính tiền thắng thua: Khi có người thắng thì những người còn lại tính số lá bài còn lại chưa đánh được để trả cho người thắng, mỗi lá bài tính 10.000đồng (đối với ván bài không sâm, không treo); nếu một người báo sâm mà không ai bắt được thì người chơi còn lại phải trả cho người báo sâm số tiền 200.000đồng, người báo sâm bị bắt bài thì phải trả số tiền 600.000 đồng cho người bắt được bài; trong ván bài người không đánh được lá bài nào là treo, phải trả cho người thắng ván bài số tiền 150.000 đồng; người đánh lá bài “2” bị bắt tứ quý phải trả cho người bắt tứ quý số tiền 150.000 đồng; người có 04 lá bài “2”, toàn bộ lá bài màu đen hoặc màu đỏ thì bắt treo những người còn lại, mỗi người phải trả 150.000 đồng cho người bắt treo. Kết thúc mỗi ván bài thanh toán tiền thắng thua cho nhau rồi tiếp tục đánh ván mới. Khi D, H1, L, T đánh bạc được 05 phút thì N vào đánh bạc cùng với cách đánh bạc như trên.
Đến khoảng 15 giờ 05 phút cùng ngày, C dọn dẹp xong vào ngồi xem mọi người đánh bạc, đến 15 giờ 10 phút L (đang thắng 70.000 đồng), N (đang thua hết số tiền 50.000 đồng dùng đánh bạc) không đánh bạc nữa ra về, C vào tham gia đánh bạc cùng D, H1,T với hình thức và mức sát phạt như trước. D, H1, T, C cùng nhau đánh bạc liên tục đến 15 giờ 50 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện B phát hiện, bắt quả tang lập biên bản, thu giữ số tiền 10.050.000 đồng trên chiếu bạc, 01 bộ bài tu-lơ-khơ có 52 lá bài, 01 tấm ga giường bằng vải màu tím các đối tượng sử dụng để đánh bạc, trong túi quần trước của Huyên số tiền 3.500.000 đồng.
Sau khi biết D, H1, T, C bị cơ quan công an bắt quả tang về hành vi đánh bạc, ngày 23/3/2024 L ra đầu thú và giao nộp số tiền 570.000 đồng đánh bạc, ngày 25/3/2024 N ra đầu thú tại Cơ quan CSĐT Công an huyện B.
Tại thời điểm D, H1, T, L, N đánh bạc, tổng số tiền dùng đánh bạc là 11.150.000 đồng, trong đó D có 4.500.000 đồng, H1 có 3.700.000 đồng, T có 2.400.000 đồng, L có 500.000 đồng, N có 50.000 đồng. Khi L (đang thắng 70.000 đồng) và N (đã thua hết 50.000 đồng) không đánh bạc nữa ra về, C (có 2.970.000đồng) vào thay thì tổng số tiền dùng đánh bạc lúc này là 13.550.000đồng.
Quá trình điều tra làm rõ số tiền thu trên người Huyên 3.500.000 đồng dùng để đánh bạc, như vậy tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 14.120.000 đồng, trong đó: D có 4.500.000 đồng, H1 có 3.700.000 đồng, C có 2.970.000 đồng,T có 2.400.000 đồng, L có 500.000 đồng, N có 50.000 đồng. Ngoài ra, không sử dụng tài sản gì khác để đánh bạc.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 108/2024/HS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Khắc D, Nguyễn Mạnh T, Hoàng Hữu H1, Lưu Văn C, Phạm Hoàng L và Nguyễn Văn N phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc D 10 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, từ ngày 22/3/2024 đến ngày 25/3/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T 08 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, từ ngày 22/3/2024 đến ngày 25/3/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Hữu H1 08 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, từ ngày 22/3/2024 đến ngày 25/3/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lưu Văn C 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 04 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng L 40.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 20.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; xử lý vật chứng, quyết định án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 16/8/2024 bị cáo Nguyễn Mạnh T kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo; ngày 19/8/2024 các bị cáo Nguyễn Khắc D và Hoàng Hữu H1 kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Khắc D, Hoàng Hữu H1 và Nguyễn Mạnh T giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Khắc D, Hoàng Hữu H1 và Nguyễn Mạnh T vì các bị cáo đã tự nguyện nộp xong khoản tiền truy thu và án phí theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm; ngoài ra, bị cáo T được Tổng cục Trưởng T3 tặng thưởng danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ sở vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua "Vì ANTQ" năm 2015. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Khắc D, Hoàng Hữu H1 và Nguyễn Mạnh T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 108/2024/HS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Sửa biện pháp chấp hành hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Khắc D, Hoàng Hữu H1 và Nguyễn Mạnh T, cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách gấp đôi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Khắc D, Hoàng Hữu H1 và Nguyễn Mạnh T làm trong thời hạn luật định được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì, do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung vụ án: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Khắc D, Hoàng Hữu H1 và Nguyễn Mạnh T đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau; phù hợp với vật chứng vụ án đã thu giữ được; các kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ để kết luận khoảng 14 giờ 30 phút ngày 22/3/2024 tại phòng bếp ăn cũ thuộc khu nhà điều hành Công ty C1, các bị cáo Nguyễn Khắc D, Hoàng Hữu H1, Nguyễn Mạnh T, Lưu Văn C, Phạm Hoàng L và Nguyễn Văn N đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “Sâm” ăn tiền. Các bị cáo đánh bạc đến khoảng 15 giờ 50 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện B phát hiện, bắt quả tang người cùng tang vật. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 14.120.000 đồng (Mười bốn triệu một trăm hai mươi nghìn đồng).
[4] Với hành vi nêu trên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Khắc D, Hoàng Hữu H1 và Nguyễn Mạnh T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[5] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đối với cả ba bị cáo; ngoài ra còn áp dụng thêm một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là bị cáo D và bị cáo H1 có bố, mẹ là người có công với nước được tặng thưởng Huân chương kháng chiến là đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc D mức hình phạt 10 tháng tù, các bị cáo Hoàng Hữu H1 và Nguyễn Mạnh T mỗi bị cáo 08 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như vai trò phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng. Tại phiên tòa phúc thẩm cả ba bị cáo đều xuất trình tài liệu chứng cứ mới thể hiện các bị cáo đã nộp tiền phạt bổ sung và án phí theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, ngoài ra bị cáo T có thành tích được Tổng cục Trưởng T3 tặng thưởng danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ sở vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua "Vì ANTQ" năm 2015. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà các bị cáo được hưởng. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nêu trên cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.
Tuy các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ mới tại phiên tòa phúc thẩm nhưng hành vi đánh bạc của các bị cáo là tích cực, số tiền sử dụng đánh bạc nhiều hơn các đồng phạm khác và mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với các bị cáo D, H1, T là phù hợp và tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Khắc D, Hoàng Hữu H1 và Nguyễn Mạnh T.
Thấy rằng, trước khi phạm tội các bị cáo D, H1 và T đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng; được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ; có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự và có khả năng tự cải tạo tại địa phương. Việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn trên địa bàn và cũng không ảnh hưởng đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, không cần thiết bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định và giao cho chính quyền địa phương nơi thường trú giám sát, giáo dục như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đủ để răn đe, phòng ngừa cũng như tạo điều kiện giúp các bị cáo có cơ hội được tự cải tạo, sửa chữa sai lầm và tiếp tục làm việc để chăm lo cho gia đình.
[7] Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt.
[8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.
[9] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Khắc D, Hoàng Hữu H1 và Nguyễn Mạnh T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 108/2024/HS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc về biện pháp chấp hành hình phạt.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Khắc D, Hoàng Hữu H1 và Nguyễn Mạnh T phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc D 10 (Mười) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 08 (T2) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Hữu H1 08 (T2) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T 08 (T2) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Khắc D cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; bị cáo Hoàng Hữu H1 cho Ủy ban nhân dân phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc và bị cáo Nguyễn Mạnh T cho Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Khắc D, Hoàng Hữu H1 và Nguyễn Mạnh T mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Danh |
7
Bản án số 116/2024/HS-PT ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự phúc thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 116/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Khắc D và đồng phạm, phạm tội "Đánh bạc"
