TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 116/2024/HSST
Ngày: 12/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG-TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Hải Âu
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Lê Hưng Quang – Cán bộ hưu trí.
2. Ông: Phạm Hồng Sơn – Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hán Tấn Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
- Đại diện Viện kiểm sát huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thìn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 104/2024/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1994 tại tỉnh Bình Thuận; Giới tính: Nam; Nơi thường trú và chỗ ở: khu phố T, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Ngọc L1; A, chị, em ruột: có 04 người; Vợ: Nguyễn Thị Ngọc T1; Con: có 01 người, sinh năm 2012.
Tiền án: 01-Bản án số 63/2020/HS-ST ngày 17/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xử phạt Nguyễn Văn L 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/4/2021.
Tiền sự: 01- Ngày 19/7/2021, Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong ra Quyết định số 86/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng (chưa chấp hành).
Bị cáo bị bắt vào ngày 18 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định truy nã, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện T (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người bị hại: Nguyễn Khắc T2, sinh năm 1988. Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:
Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 21 tháng 04 năm 2022 bị cáo Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô biển số 86K8-5494 chạy ra bờ kè biển thuộc khu phố P, thị trấn P, huyện T để chơi. Tại đây L phát hiện 01 xe ô tô trộn xi măng của anh Nguyễn Khắc T2 đang dừng đỗ không có ai trông coi. L liền nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên đã mở cửa xe ô tô trèo vào ca bin và lấy đi 01 ví da hiệu TRUEREHGION màu nâu bên trong có: số tiền 300.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5SE màu xám trắng, 01 điện thoại di động hiệu ViVo Y12S màu xanh. Sau khi lấy trộm số tài sản trên thì Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô đi về hướng cầu S thuộc thị trấn P, huyện T để tìm nơi tiêu thụ thì bị Công an thị trấn P phát hiện và mời về làm việc đồng thời thu giữ được các tài sản trên.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số: 27/KL-HĐĐG ngày 10/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:
- - 01 ví da hiệu TRUEREHGION trị giá 50.000 đồng/chiếc × 50% = 25.000 đồng.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5SE màu xám trắng trị giá 1.100.000 đồng/chiếc × 40% = 440.000 đồng.
- - 01 điện thoại di động hiệu ViVo Y12S màu xanh trị giá 2.690.000 đồng/chiếc × 70% = 1.883.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản định giá là 2.348.000đồng.
Về tang vật chứng: Sau khi định giá Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an huyện T đã trao trả lại cho trả lại 01 ví da hiệu TRUEREHGION, 300.000 đồng, 01 Điện thoại di động hiệu Iphone 5SE, 01 Điện thoại di động hiệu ViVo Y12S cho bị hại Nguyễn Khắc T2; Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T trả lại 01 xe mô tô biển số 86K8-5494 cho chủ sỡ hữu là bà Lê Thị Ngọc L1 (mẹ ruột của bị cáo Nguyễn Văn L) do bà L1 không biết bị cáo sử dụng xe đi trộm cắp tài sản.
Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã giao trả lại tài sản cho bị hại Nguyễn Khắc T2. Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số: 107/CT-VKSTP-HS, ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ly về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa sơ thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18 tháng 7 năm 2024.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo biết lỗi, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, Kiểm sát viên:Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó có đủ cơ sở khẳng định các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy, trong quá trình điều tra thì những người nêu trên đã có lời khai rõ ràng về các tình tiết của vụ án, việc vắng mặt của bị hại không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[3] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung cáo trạng đã nêu, bị cáo khẳng định những lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra vụ án là hoàn toàn tự nguyện, bị cáo không bị bức cung và cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng, không oan sai. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và các chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận vào khoảng hơn 16 giờ 00 phút ngày 21 tháng 04 năm 2022 tại khu phố P, thị trấn P, huyện T bị cáo Nguyễn Văn L đã có hành vi chiếm đoạt 01 ví da hiệu TRUEREHGION màu nâu, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5SE màu xám trắng, 01 điện thoại di động hiệu ViVo Y12S màu xanh và số tiền 300.000 đồng của ông Nguyễn Khắc T2 thì bị phát hiện bắt giữ cùng tang vật. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt trị giá 2.648.000đồng (Hai triệu sáu trăm bốn mươi tám nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng số: 107/CT-VKSTP-HS, ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
- Về tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn L có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
- Về tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần áp dụng khi lượng hình phạt đối với bị cáo.
Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo là công dân có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận biết được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vì bản tính tham lam, muốn có tiền tiêu xài một cách nhanh chóng, lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ tài sản, bi cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù của Bản án số 63/2020/HS-ST ngày 17/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, bị cáo không tu dưỡng bản thân để trở thành công dân tốt mà lại tiếp tục chiếm đoạt tài sản của người khác nhằm mục đích tư lợi cá nhân, thể hiện sự xem thường pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, tạo tâm lý mất an toàn trong nhân dân. Điều đó chứng tỏ bị cáo là đối tượng nguy hiểm cho xã hội.
Trên cơ sở căn nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo để bị cáo có thời gian rèn luyện bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời nhằm để răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về tang vật chứng: Đã giải quyết xong tại giai đoạn điều tra.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác về trách nhiệm dân sự do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tại phiên tòa là có căn cứ đúng pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm tù, thời gian tù tính từ ngày 18 tháng 7 năm 2024.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Án xử công khai có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12 tháng 11 năm 2024).
Bị hại Nguyễn Khắc T2 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Hải Âu |
Bản án số 116/2024/HSST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG-TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 116/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG-TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BỊ CÁO PHẠM TỘI TRẬM CẮP TÀI SẢN
