Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG PHÚ

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 116/2024/HS-ST

Ngày: 11/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Trung Thành

Ông Phạm Văn Giới

-Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hồ Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 115/2024/TLST-HS ngày 07/10/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Thị Thanh N; sinh năm 1979; Nơi sinh: Bình Phước; Nơi thường trú: Tổ D, ấp A, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 7/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Quang S, sinh năm 1930 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1943; Có chồng tên Phan Mạnh Q, sinh năm 1980; Có 02 con ruột, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/5/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm: 1972; Nơi sinh: Quảng Nam; Nơi thường trú: Tổ D, ấp A, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 3/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn H1 (đã chết) và bà Đặng Thị H2 (đã chết); có vợ là Thái Thị Thùy T, sinh năm 1973, có 02 con ruột lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2018 bị UBND huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Bị cáo đã nộp phạt xong năm 2018.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/5/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Vũ Thị N1, sinh năm: 1979; Nơi sinh: Hải Phòng; Nơi thường trú: ấp D, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Trình độ học vấn: 7/12; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Buôn bán; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Vũ Đình P, sinh năm 1949 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1953; có chồng là Trương Minh H3, sinh năm 1978 (đã bỏ đi khỏi địa phương), có 02 con ruột, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2012;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/5/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Kim Quang T1, sinh năm: 1982; Nơi sinh: Bình Dương; Nơi thường trú: ấp T, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; Trình độ học vấn: 0/12; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Công nhân; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khơ me; Tôn giáo: Không; Con ông Kim N2, sinh năm 1957 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1952; có vợ Nguyễn Thị T2, sinh năm 1991 (đã ly hôn); có 04 con ruột, lớn nhất sinh năm 2007; nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/5/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

5. Họ và tên: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1991, nơi sinh: An Giang; Nơi thường trú: Ấp Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Nơi ở hiện nay: Tổ D, ấp A, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 4/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Hòa Hảo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Trần Thị M, sinh năm 1960; Có chồng là Kim Quang T1, sinh năm 1982 (đã ly hôn); có 05 con ruột lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/5/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 30/4/2024, Kim Quang T1 (sinh năm 1982), Nguyễn Thị T2 (sinh năm 1991), Nguyễn Văn H (sinh năm 1972), Vũ Thị N1 (sinh năm 1979) đến nhà Trần Thị Thanh N (sinh năm 1979) tại ấp A, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước chơi. Một lúc sau, N rủ H, N1, T1 đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh phỏm thì cả ba đồng ý và đi ra phía sau vườn nhà N để chơi. Cả nhóm quy định, khi thua “ù” sẽ mất 50.000 đồng/người, ăn 01 lá bài 10.000 đồng, ăn lá tiếp theo 20.000 đồng, ăn lá bài chốt 40.000 đồng, ăn 3 lá bài (ù đền) thì người bị ăn phải trả tiền thay cho những nhà thua, kết thúc ván bài nếu không có người “ù” thì tính điểm để thắng thua, thua nhì 10.000 đồng, thua ba 20.000 đồng, thua thứ tư 30.000 đồng, nếu bài không có phỏm gọi là cháy 40.000 đồng (người về nhất ăn hết), nếu có người thắng “ù” thì sẽ bỏ ra 10.000 đồng tiền xâu cho N. Khi chơi, N sử dụng 1.580.000 đồng, N1 sử dụng 2.420.000 đồng, H sử dụng 2.580.000 đồng, T1 sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc, còn T2 ngồi xem. Cả nhóm đánh bạc từ khoảng 17 giờ đến 20 giờ cùng ngày, N mệt nên nhờ T2 chơi giúp thì T2 đồng ý vào đánh bạc giúp N. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi Nguyễn Thị T2, Kim Quang T1, Nguyễn Văn H, Vũ Thị N1 đang đánh bạc, còn Trần Thị Thanh N ngồi xem thì bị lực lượng Công an xã T, huyện Đ phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồng thời đưa Kim Quang T1, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Văn H, Vũ Thị N1, Trần Thị Thanh N về trụ sở làm việc. Quá trình điều tra, Kim Quang T1, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Văn H, Vũ Thị N1, Trần Thị Thanh N khai nhận toàn bộ hành vi như trên.

Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ trên chiếu bạc: Số tiền 6.840.000 đồng (sử dụng đánh bạc); 01 bộ bài tây 52 lá; 01 tấm vải màu xanh.

- Thu giữ xung quanh chiếu bạc: 01 giỏ nhựa màu xanh xám bên trong có số tiền 320.000 đồng (sử dụng đánh bạc); 18 bộ bài tây 52 lá; 01 điện thoại di động hiệu Nokia; 02 điện thoại di động hiệu Oppo.

- Thu giữ trên người: Vũ Thị N1 420.000 đồng (sử dụng đánh bạc), Kim Quang T1 500.000 đồng (sử dụng đánh bạc), Nguyễn Thị T2 160.000 đồng.

Quá trình điều tra chứng minh được: Tổng số tiền các bị can sử dụng vào mục đích đánh bạc 8.080.000 đồng trong đó N sử dụng 1.580.000 đồng, N1 sử dụng 2.420.000 đồng, H sử dụng 2.580.000 đồng, T1 sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc.

Cáo trạng số 115/CT-VKS ngày 04 tháng 10 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã truy tố: Các bị cáo Trần Thị Thanh N, Nguyễn Văn H, Vũ Thị N1, Kim Quang T1, Nguyễn Thị T2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như Cáo trạng số 115/CT-VKS ngày 04 tháng 10 năm 2024 đã đề cập và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Đề nghị tuyên bố các bị cáo Trần Thị Thanh N, Nguyễn Văn H, Vũ Thị N1, Kim Quang T1, Nguyễn Thị T2 phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt: Đề nghị

Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 50, 58 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị tuyên phạt bị cáo Trần Thị Thanh N từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.

Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 50, 58 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.

Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1Điều 51; các Điều 17, 50, 58 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị tuyên phạt bị cáo Vũ Thị N1 từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.

Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 50, 58 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị tuyên phạt bị cáo Kim Quang T1 từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.

Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 50, 58 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị T2 từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo do có hoàn cảnh khó khăn

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự, đề nghị

-Tuyên tịch thu, sung công quỹ đối với số tiền 8.080.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc.

-Tuyên trả cho: Nguyễn Thị T2 số tiền 160.000 đồng; trả cho Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động hiệu Nokia; trả cho Kim Quang T1 điện thoại di động hiệu oppo 01 điện thoại di động hiệu oppo màu xanh xám thu giữ của Vũ Thị N1 thu giữ trên chiếu bạc không sử dụng vào mục đích phạm tội.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây 52 lá; 01 tấm vải màu xanh; 01 giỏ nhựa màu xanh xám.

Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Thị Thanh N, Nguyễn Văn H, Vũ Thị N1, Kim Quang T1, Nguyễn Thị T2 thừa nhận hành vi phạm tội của mình như trên và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Về thủ tục tố tụng: Quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, các bị cáo Trần Thị Thanh N, Nguyễn Văn H, Vũ Thị N1, Kim Quang T1, Nguyễn Thị T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai, nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nội dung Cáo trạng số 115/CT-VKS ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước; phù hợp các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, được Hội đồng xét xử thẩm tra công khai tại phiên toà. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ đến 20 giờ 30 phút ngày 30/4/2024, Trần Thị Thanh N đã sử dụng nhà của mình để cùng Kim Quang T1, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Văn H, Vũ Thị N1 đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài phỏm thì bị bắt quả tang tại ấp A, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc 8.080.000 đồng (trong đó N sử dụng 1.580.000 đồng, N1 sử dụng 2.420.000 đồng, H sử dụng 2.580.000 đồng, T1 sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc.

Như vậy, hành vi của các bị cáo Trần Thị Thanh N, Nguyễn Văn H, Vũ Thị N1, Kim Quang T1, Nguyễn Thị T2 đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 321 của Bộ luật Hình sự;

[3]Hành vi mà các bị cáo đã thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý công cộng, gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, ảnh hưởng đến nếp sống văn hóa lành mạnh của cộng đồng dân cư. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, các bị cáo biết được hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc là trái pháp luật và sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Vì xem thường pháp luật nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã khai, nhận ở trên. Xét thấy; cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về vai trò đồng phạm của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, không có sự phân công phân nhiệm trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Xét vai trò của từng bị cáo thì bị cáo Trần Thị Thanh N là người đầu tiên khởi xướng việc đánh bạc và là người thực hành trực tiếp nên bị cáo N phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn các bị cáo khác trong vụ án; bị cáo Nguyễn Văn H tuy không phải là người khởi xướng nhưng bị cáo có nhân thân không tốt (trước đây vào năm 2018 đã bị xử phạt hành chính về hành vi cá độ bóng đá, bị cáo đã chấp hành nộp phạt vào năm 2018) nên bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn các bị cáo còn lại. Các bị cáo Vũ Thị N1, Kim Quang T1, Nguyễn Thị T2 đều tham gia với vai trò là người thực hành nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm tương ứng đối với hành vi của mình đã thực hiện.

[5] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Trần Thị Thanh N hiện đang phải chăm sóc mẹ già yếu; bị cáo Vũ Thị N1 có bố ruột là người có công với cách mạng (bị thương binh loại A, hạng 2/8); bị cáo Nguyễn Thị T2 và Kim Quang T1 hiện tại đang nuôi con nhỏ. Bị cáo Nguyễn Văn H tuy trước đây bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc nhưng đã chấp hành xong từ năm 2018; Các bị cáo đều có trình độ văn hóa thấp nên việc am hiểu pháp luật còn hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự sẽ được áp dụng khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giải nhẹ nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt “cải tạo không giam giữ” giao các bị cáo cho UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú và gia đình theo dõi, giám sát giáo dục là đủ.

Do các bị cáo đều là những người lao động phổ thông, làm thuê, công việc không ổn định hoàn cảnh của các bị cáo cũng khó khăn như đã nêu trên cần miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Ngoài hình phạt chính “Cải tạo không giam giữ” cần phạt tiền bổ sung mỗi bị cáo là 10.000.000 đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 8.080.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc (bao gồm: trong đó N sử dụng 1.580.000 đồng, N1 sử dụng 2.420.000 đồng, H sử dụng 2.580.000 đồng, T1 sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc) và thu giữ trên chiếu bạc. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội, áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia thu giữ của Nguyễn Văn H; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh xám thu giữ của Kim Quang T1; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh xám thu giữ của Vũ Thị N1; số tiền 160.000đồng thu giữ của Nguyễn Thị T2. Đây là tài sản cá nhân của các bị cáo không sử dụng vào mục đích phạm tội nên áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự tuyên trả lại cho các bị cáo.

Đối với 01 bộ bài tây 52 lá; 01 tấm vải màu xanh; 01 giỏ nhựa màu xanh xám. Đây là vật chứng không có giá trị, áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy.

[8] Đối với Phan Mạnh Q, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo do Viện kiểm sát không đề cập xử lý trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với Kim Quang T1 đã thực hiện hành vi giao cấu với Nguyễn Thị T2 khi T2 chưa đủ 16 tuổi, dẫn đến T2 sinh cháu Kim Thị Mỹ L1, quá trình điều tra xác định đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự do Viện kiểm sát không đề cập xử lý trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9]Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố các bị cáo Trần Thị Thanh N, Nguyễn Văn H, Vũ Thị N1, Kim Quang T1, Nguyễn Thị T2 về tội “Đánh bạc” khoản 1, Điều 321 của Bộ luật Hình sự; là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo và xử lý vật chứng như trên là có cơ sở và được xem xét khi quyết định.

[10] Án phí: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo Trần Thị Thanh N, Nguyễn Văn H, Vũ Thị N1, Kim Quang T1, Nguyễn Thị T2 phạm tội “Đánh bạc”.

[2] Về hình phạt:

1. Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; các Điều 17, 36, 50, 58 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị tuyên phạt bị cáo Trần Thị Thanh N 12 (mươi hai) tháng cải tạo không giam giữ.

Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; các Điều 17, 36, 50, 58, của Bộ luật Hình sự. Đề nghị tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn H 12 (mươi hai) tháng cải tạo không giam giữ.

Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; các Điều 17, 50, 58, 65 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị tuyên phạt bị cáo Vũ Thị N1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.

Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; các Điều 17, 36, 50, 58 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị tuyên phạt bị cáo Kim Quang T1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.

Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; các Điều 17, 36, 50, 58 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị T2 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo Trần Thị Thanh N, Nguyễn Văn H, Vũ Thị N1, Nguyễn Thị T2 được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự - Công an huyện Đ, tỉnh Bình Phước nhận được quyết định thi hành án.

Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo Kim Quang T1 được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự - Công an huyện P, tỉnh Bình Dương nhận được quyết định thi hành án.

Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo

Xử phạt bổ sung Trần Thị Thanh N, Nguyễn Văn H, Vũ Thị N1, Kim Quang T1, Nguyễn Thị T2 mỗi bị cáo số tiền là 10.000.000 đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.

Giao các bị cáo Trần Thị Thanh N, Nguyễn Văn H, Vũ Thị N1, Nguyễn Thị T2 cho UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước và giao bị cáo Kim Quang T1 cho UBND xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã, phường trong việc giám sát giáo dục các bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

[3] Về xử lý vật chứng:

1.Áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự: Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 8.080.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc.

2.Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự tuyên trả lại cho:

Truyên trả lại cho Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động hiệu N3; Trả lại cho Kim Quang T1 01 điện thoại di động hiệu oppo màu xanh xám; trả lại cho Vũ Thị N1 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh xám; trả cho Nguyễn Thị T2 số tiền 160.000đồng

3.Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy:

19 bộ bài tây (11 bộ đã qua sử dụng và 08 bộ chưa qua sử dụng); 01 tấm vải màu xanh; 01 giỏ nhựa màu xanh hình trụ

[5] Án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo Trần Thị Thanh N, Nguyễn Văn H, Vũ Thị N1, Kim Quang T1, Nguyễn Thị T2, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

[6] Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước (01);
  • - VKSND huyện Đồng Phú (01);
  • - THADS huyện Đồng Phú(01);
  • - CA huyện Đồng Phú (03);
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh BP
  • - TT lý lịch tư pháp – Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước (01);
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú (01);
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng (01);
  • - Lưu (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về vụ án hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 116/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tuyên bố các bị cáo phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger