|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ TỈNH SƠN LA Bản án số: 116/2024/HSST. Ngày: 28 - 9 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hồng Nghiêm
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thu Thủy và ông Tráng A Lứ
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hằng Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Minh La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Tráng A Trư - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2024/TLST- ST ngày 12 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Hà Thị T, tên gọi khác: Không, sinh năm 1957, tại huyện V, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản N, xã X, huyện V, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hà Văn B và bà Hà Thị T1 (Đều đã chết); Bị cáo có chồng là Hà Văn T2 và 05 con, con lớn sinh năm 1981, con nhỏ sinh năm 1988; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/6/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Công ty cổ phần C, người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Công T3, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần C. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu T4, chức vụ: Đội trưởng đội cao su N, xã X, huyện V, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 12 năm 2023, Hà Thị T, (Thường không nhớ ngày cụ thể), do không có đất làm nương nên một mình đi đến lô cây cao su số 12 NA Sơn La tại (trồng năm 2011), thuộc vườn cây cao su của Công ty cổ phần C, tại bản Nà An, xã X, huyện V để tìm đất làm nương. Khi đến nơi, Hà Thị T thấy khu vực này có trồng cây cao su nhưng Công ty không chăm sóc, cây bụi mọc lên nhiều, T đã sử dụng một con dao bằng kim loại, dài 48 cm, phần lưỡi dao dài 34 cm, mũi dao vuông, cán dao bằng gỗ dài 14 cm chặt cây cao su và phát cây bụi. Hà Thị T chặt cả cây cao su và các cây bụi trong hai ngày liên tục. Thường chặt phá tổng số 22 cây cao su cao khoảng 4 đến 6 m, đường kính khoảng từ 08 cm đến 16 cm, được tổng diện tích là 0,108 ha.
Ngày 07 tháng 03 năm 2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiếp nhận tin báo về tội phạm của. Ông Nguyễn Hữu T4, sinh năm 1984, trú tại tiểu khu F, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La. Với nội dung:
Ngày 02/03/2024 Đội cao su N của Công ty cổ phần C kiểm tra tình hình vườn cây cao su tại khu vực O thuộc địa phận bản N, xã X, huyện V, tỉnh Sơn La thì phát hiện người dân đang chặt phá cây cao su. Quá trình kiểm tra phát hiện cây cao su tại các 16 25 NA, 26 NA, 27 NA và 39 NA bị chặt phá với tổng diện tích là 39,27 ha, trong đó có tổng 4.706 cây cây cao su đã bị chặt phá.
Sau khi tiếp nhận tin báo ngày 02/4/2024 Cơ quan CSĐT phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, Công an xã X và các lực lượng chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường và kiểm đếm cây cao su khu vực Hà Thị T chặt phá cây cao su được xác định thuộc lô cao su số 12NA-11 của Công ty Cổ phần C tại bản Nà An, xã X, huyện V, tỉnh Sơn La. Tổng diện tích chặt phá là 0,108 ha. Điểm cuối khu vực chặt phá phía Bắc có tọa độ (X: 584741, Y: 2291828), điểm cuối khu vực chặt phá phía Nam có tọa độ (X: 584743; Y: 2291783), điểm cuối khu vực chặt phá phía Tây có tọa độ (X: 584740; Y: 2291806), điểm cuối khu vực chặt phá phía Đông có tọa độ (X: 584762; Y: 2291622), các tọa độ được mô tả theo hệ tọa độ VN B.
Quá trình khám nghiệm cơ quan chức năng đã tiến hành kiểm đếm, đo đặc các cây cao su bị chặt phá. Tổng số 22 cây cao su bị chặt có đường kính gốc từ 08 – 16 cm,.
Ngày 04/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V, tỉnh Sơn La ra yêu cầu định giá tài sản số 1059/YC-ĐTTH đề nghị Hội đồng định giá tài sản huyện V, tỉnh Sơn La định giá giá trị tài sản bị thiệt hại đối với 22 cây cao su có đường kính gốc từ 08 cm đến 16 cm, đều được trồng từ năm 2011.
Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 18/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V, tỉnh Sơn La với nội dung như sau: Vận dụng mục 4 phần X tại biểu theo Quyết định số 01/2021/QĐ- UBND ngày 21/01/2021 của UBND tỉnh S đối với cây cao su từ năm thứ 10 đến năm thứ 13, có giá trị như sau: 22 cây x 903.000 đồng/cây = 19.866.000 đồng (Bằng chữ: Mười chín triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
Về vấn đề bồi thường dân sự. Công ty cổ phần C yêu cầu Hà Thị T bồi thường tổng số tiền là 19.866.000 đồng. Hiện tại T đã bồi thường cho Công ty cổ phần C 3.000.000 đồng, số tiền còn lại bị can phải tiếp tục bồi thường.
Cáo trạng số 82/CT-VKS ngày 10/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, truy tố Hà Thị T về tội: Hủy hoại tài sản, theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Hà Thị T về tội: Hủy hoại tài sản.
Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự. Xử phạt Hà Thị T từ 13 tháng đến 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 26 đến 32 tháng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về bồi thường dân sự: Bị cáo phải bồi thường cho Công ty cổ phần C số tiền còn lại là 16.866.000 đồng
- Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 con đạo bằng kim loại, đài 48 cm, phần lưới đạo đài 34 cm, mũi đao vuông, cán dao bằng gỗ dài 14 cm.
Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo
Bị cáo, bị hại nhất trí với lời luận tội của Viện kiểm sát, không có tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Khoản tháng 12 năm 2023 Hà Thị T có hành vi dùng dao chặt phá, hủy hoại 22 cây cao su của Công ty cổ phần C gây thiệt hại tổng giá trị là 19.866.000 đồng ( Mười chín triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội hủy hoại tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
[2]. Tính chất hành vi của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự tại địa phương.
[3] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
[4] Về hình phạt: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng. Do vậy chấp nhận đề nghị của Viện kiển sát, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần xử một mức án tương xứng, có thời gian thử thách cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo, căn cứ khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Nay căn cứ vào điều kiện thực tế của bị cáo và hoàn cảnh gia đình của bị cáo không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên tham gia tố tụng tuân theo và chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[6]. Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 con đạo bằng kim loại, đài 48 cm, phần lưới đạo đài 34 cm, mũi đao vuông, cán dao bằng gỗ dài 14 cm chặt cây cao su, là những vật không có giá trị sử dụng do vậy tuyên tịch thu tiêu huỷ.
[7] Về bồi thường dân sự: Công ty cổ phần C yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền bị cáo gây thiệt hại là 19.866.000 đồng ( Mười chín triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn đồng), bị cáo đã bời thường 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng, bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại là 16.866.000 đồng ( Mười sáu triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn đồng), là có căn cứ chấp nhận
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Tại phiên tòa bị cáo xin được miễn án phí. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Hà Thị T, phạm tội: Hủy hoại tài sản.
Xử phạt bị cáo 13 (Mười ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 26 (Hai mươi sáu) tháng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo được tính từ ngày tuyên án là ngày 28/9/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Giao bị cáo Hà Thị T cho UBND xã X, huyện V, tỉnh Sơn La, trực tiếp quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, quản lý, giáo dục bị cáo.
“ Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo ”.
“ Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì cơ quan tổ chức giám sát, giáo dục có trách nhiệm thông báo ngay cho Tòa án ra quyết định thi hành án kèm hồ sơ thi hành án của người đó để Tòa án giao cho tổ chức nơi bị án chuyển đến để tiếp tục giám sát, giáo dục và được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự ”.
-
Về bồi thường dân sự: Bị cáo phải bồi thường cho Công ty cổ phần C số tiền là 16.866.000 đồng ( Mười sáu triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu bị cáo vi pham nghĩa vụ trả nợ theo định kỳ như đã thỏa thuận, bị hại có quyền yêu cầu thi hành án toàn bộ số tiền chưa trả và kẻ từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành ăn xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
-
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 con đạo bằng kim loại, đài 48 cm, phần lưới đạo đài 34 cm, mũi đao vuông, cán dao bằng gỗ dài 14 cm.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 119 ngày 16/9/2024 giữa Cơ quan điều tra và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Vân Hồ.
-
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo
-
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hồng Nghiêm |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
|
Vũ Hồng Nghiêm |
Bản án số 116/2024/HSST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA về hủy hoại tài sản
- Số bản án: 116/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hủy hoại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng tháng 12 năm 2023 Hà Thị Th có hành vi dùng dao chặt phá, hủy hoại 22 cây cao su của Công ty cổ phần cao su Sơn La gây thiệt hại tổng giá trị là 19.866.000 đồng ( Mười chín triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội hủy hoại tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự
