|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN Bản án số: 116/2024/HSST Ngày: 25/10/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuỳ Trân;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Cang và ông Lê Phú Hào.
Thư ký phiên tòa: Bà Mai Lê Thục Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quốc Cường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 125/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2024/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Đinh Bảo H
(Tên gọi khác: Kẹt E), sinh năm 1995; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn M, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Đinh C, sinh năm 1963 và bà Phạm Thị Ố, sinh năm 1968; Có 02 anh em.
Tiền án: không.
Tiền sự: Ngày 03/8/2023, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 3.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản và 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, chưa nộp phạt.
Nhân thân:
- Ngày 07/3/2012, bị Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Đà Nẵng xử phạt 06 năm tù về tội Hiếp dâm trẻ em. Chấp hành xong bản án ngày 31/8/2015.
- Ngày 14/3/2017, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 750.000 đồng về hành vi đánh nhau.
- Ngày 31/01/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T khởi tố bị can về tội Cố ý gây thương tích. Ngày 03/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hoà ra quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can Đinh Bảo H, do bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
- Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 07/5/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Có mặt.
2. Đỗ Ngọc T
(Tên gọi khác Đ), sinh năm 1994; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn M, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Đỗ Ngọc T1, sinh năm 1972 và bà Trương Thị K, sinh năm 1972; Có 01 em.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 22/4/2024, bị Công an thành phố T xử phạt hành chính, phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đã nộp phạt.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 07/5/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Có mặt.
3. Huỳnh Quốc H1
(Tên gọi khác: H5), sinh năm 2002; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu phố N, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Huỳnh Văn N, sinh năm 1979 và bà Huỳnh Thị H2, sinh năm 1980; Có 01 em.
Tiền án: Ngày 15/3/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành án phạt tù tại Trại giam X1 đến ngày 03/11/2023 về địa phương.
Tiền sự:
- Ngày 24/6/2022, bị Công an thành phố T xử phạt hành chính phạt tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa nộp phạt;
- Ngày 21/7/2022, bị Công an thành phố T xử phạt hành chính phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, chưa nộp phạt;
Nhân thân: Ngày 22/4/2024, bị Công an thành phố T xử phạt hành chính, phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã nộp phạt.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 10/5/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ. Có mặt.
4. Huỳnh Tấn M
(Tên gọi khác: không), sinh năm 1997; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu phố P, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: H (chết), và bà Ngô Thị P, sinh năm 1972; Có 02 anh em.
Tiền án: không.
Tiền sự: Ngày 19/3/2024, bị Công an P2 xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, chưa nộp phạt.
Nhân thân:
- Ngày 24/4/2024, bị Công an P2 xử phạt hành chính, phạt tiền 1.500.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, chưa nộp phạt.
- Ngày 04/5/2024, bị U ra quyết định về việc quản lý người nghiện ma tuý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma tuý và trợ giúp xã hội tỉnh Phú Yên. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ ngày 04/5/2024 theo Quyết định số 10/2024/QĐ-TA ngày 17/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
* Bị hại:
Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn L, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
Ông Bùi Hồng V, sinh năm 1976; Địa chỉ: Khu phố P, phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Thanh X, sinh năm 1989; Địa chỉ: 103/11 N, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Thành D, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Bà Lê Thị T2, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Bà Trương Thị K, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn M, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; Có mặt.
- Ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1979; Địa chỉ: Khu phố N, phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Bà Trang Thụy Thanh T3, sinh năm 1981; Địa chỉ: 5 Đ, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Ông Huỳnh Tấn L, sinh năm 1994; Địa chỉ: Khu phố P, phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Ông Huỳnh Tấn P1, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn L, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất:
Khoảng 19 giờ ngày 12/4/2024, Đinh Bảo H rủ Đỗ Ngọc T, Huỳnh Tấn M và Huỳnh Quốc H1 đi trộm cắp tài sản, tất cả đồng ý. T điều khiển xe mô tô biển số 78H1-249.62 của bà Trương Thị K (mẹ của T) chở H; M điều khiển xe mô tô biển số 78C1-364.54 của ông Huỳnh Văn N (cha của Hội) chở H1 đi đến vườn mai của anh Nguyễn Văn H3 tại thôn L, xã B, thành phố T. Hận và Hội leo qua hàng rào lưới B40, T và M đứng ngoài cảnh giới. Khi vào vườn mai, H và Hội nhổ 03 cây mai đưa ra ngoài lưới B40 rồi H, T, M, Hội cùng chở 03 cây mai đến gò C thuộc thôn V, xã H, huyện P giấu vào bụi cây rồi đi về. Anh H3 phát hiện bị mất 03 cây mai nên đến Công an P2, thành phố T báo cáo sự việc.
Vụ thứ hai:
Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 01/5/2024, Đỗ Ngọc T rủ Đinh Bảo H đi trộm cắp tài sản, H đồng ý. H điều khiển xe mô tô (không xác định) chở T đi dọc các đường nội bộ tại khu vực Nhà máy B mục đích xem ai sơ hở thì lấy trộm tài sản. Khi đến trước nhà anh Bùi Hồng V tại khu phố P, Phường I, thành phố T H và T nhìn thấy xe mô tô biển số 77C1-921.12 đang dựng trên đường có gắn 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S23 FE màu xám của anh V, không có người trông coi. H dừng xe, T đi bộ đến lén lấy điện thoại bỏ vào túi quần rồi ra xe H chở cùng về nhà H. Đến ngày 04/5/2024, T đem chiếc điện thoại đã lấy trộm đến bán cho anh Lê Thanh X ở 1 N, Phường E, thành phố T với giá 500.000 đồng và tiêu xài hết.
Kết luận định giá tài sản số 32 ngày 04/5/2024 và số 33 ngày 07/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 02 cây mai dảo và 01 cây mai cúc có giá trị 5.575.000 đồng; điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S23 FE có giá trị 9.250.000 đồng.
- Về dân sự:
Bị hại anh Nguyễn Văn H3 yêu cầu bồi thường 16.000.000 đồng.
Bị hại anh Bùi Hồng V đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Thanh X không yêu cầu số tiền 500.000 đồng.
- Vật chứng tạm giữ đã trả lại chủ sở hữu: 03 cây mai, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S23 FE, xe mô tô biển số 78H1-249.62, xe mô tô biển số 78C1-364.54, xe mô tô biển số 59S1-483.49, điện thoại di động hiệu OPPO A55, điện thoại di động hiệu Iphone XS Max.
Cáo trạng số 106/CT-VKS ngày 14/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố các bị cáo Đinh Bảo H, Đỗ Ngọc T, Huỳnh Quốc H1 và Huỳnh Tấn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo trình bày diễn biến hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố; tỏ ra ăn năn hối cải. Xin Hội đồng xét xử (HĐXX) giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo H đồng ý bồi thường 16.000.000 đồng cho bị hại anh H3 và không yêu cầu các bị cáo T, M và H1 cùng liên đới bồi thường. Các bị cáo khác không ý kiến gì về phần bồi thường dân sự.
- Bị hại Nguyễn Văn H3 trình bày: Về trách nhiệm dân sự: Đồng ý với ý kiến của bị cáo H chấp nhận bồi thường cho anh H3 số tiền 16.000.000 đồng do một cây mai Dảo bị chết. Về trách nhiệm hình sự đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định pháp luật;
- Bị hại Bùi Hồng V vắng mặt nên không có lời trình bày.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị K đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu gì.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên không có ý kiến hay yêu cầu gì.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa trình bày lời luận tội và đề nghị: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX chấp nhận nội dung cáo trạng, tuyên bố các bị cáo Đinh Bảo H, Đỗ Ngọc T, Huỳnh Quốc H1 và Huỳnh Tấn M phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Bị cáo H áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 07/5/2024.
Hình phạt bổ sung: Không.
Bị cáo T áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, g khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt từ xử phạt từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 07/5/2024.
Hình phạt bổ sung: Không.
Bị cáo Hội áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt từ từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 10/5/2024.
Hình phạt bổ sung: Không.
Bị cáo M áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt từ từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.
Về dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo H đồng ý bồi thường cho anh H3 số tiền 16.000.000 đồng do một cây mai Dảo bị chết.
Vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Đỗ Ngọc T nộp 500.000 đồng tiền thu lợi bất chính vào Ngân sách Nhà nước.
Các bị cáo nói lời sau cùng:
Bị cáo H: Đồng ý bồi thường 16.000.000 đồng cho anh H3.
Bị cáo T, M và Hội: Các bị cáo biết sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về nhà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thu thập chứng cứ và các hoạt động tố tụng khác đảm bảo đúng thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan và người tiến hành tố tụng nên không nhận xét gì thêm.
[2] Về tội danh và khung hình phạt: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được thu thập hợp pháp, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ ngày 12/4/2024, Đinh Bảo H, Đỗ Ngọc T, Huỳnh Tấn M và Huỳnh Quốc H1 đã có hành vi trộm cắp tài sản 03 cây mai của anh Nguyễn Văn H3 tại thôn L, xã B, thành phố T.
Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 01/5/2024, Đỗ Ngọc T và Đinh Bảo H đã có hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S23 FE màu xám của anh V. Đến ngày 04/5/2024, T đem chiếc điện thoại đã lấy trộm đến bán với giá 500.000 đồng và tiêu xài hết.
Kết luận định giá tài sản số 32 ngày 04/5/2024 và số 33 ngày 07/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 02 cây mai dảo và 01 cây mai cúc có giá trị 5.575.000 đồng; điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S23 FE có giá trị 9.250.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo Đinh Bảo H, Đỗ Ngọc T, Huỳnh Tấn M và Huỳnh Quốc H1 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ phạm tội: Vụ trộm cắp tài sản ngày 12/4/2024: Bị cáo H là người chủ mưu rủ các bị cáo T, H1 và M, cả 4 bị cáo tuy không bàn bạc phân công công việc nhưng cả 4 bị cáo đều cùng nhau thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và chở tài sản đi cất giấu, bị cáo H, T và Hội tích cực hơn bị cáo M.
Vụ trộm cắp tài sản ngày 01/5/2024: Bị cáo T là người chủ mưu rủ bị cáo H, bị cáo T sau khi chiếm đoạt được điện thoại đã mang đi bán lấy tiền tiêu xài hết. Hận có vai trò giúp sức quan sát xung quanh để T thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, H không được chia tiền.
Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ và trật tự trị an ở địa phương.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo H và T 02 lần thực hiện hành vi phạm tội nên áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Bị cáo Hội vừa chấp hành xong hình phạt tù về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xoá án tích, không lo tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội Trộm cắp tài sản nên áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Bị cáo M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo H, T, H1 và M đều thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo M phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về đặc điểm nhân thân:
- Bị cáo H có 04 tiền sự và nhiều nhân thân xấu.
- Bị cáo H1 có 01 tiền sự và nhân thân xấu.
- Bị cáo T không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu.
- Bị cáo M không có tiền án, nhưng có 01 tiền sự và nhiều nhân thân xấu.
Tuy nhiên, các bị cáo không có thái độ khắc phục, sửa chữa bản thân mà tiếp tục phạm tội.
[7] Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, cần xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò và đặc điểm nhân thân của từng bị cáo để có mức hình phạt cho phù hợp.
- Bị cáo H là người chủ mưu, rủ rê 03 bị cáo khác phạm tội trong vụ trộm thứ nhất, trực tiếp dẫn đường đến nơi cất giấu tài sản trộm cắp. Trong vụ trộm thứ 2, bị cáo H không được chia tiền bán tài sản, có tiền sự và nhân thân xấu, có 01 tình tiết giảm nhẹ và 1 tình tiết tăng nặng nên áp dụng hình phạt trong khung hình phạt nhưng cao hơn các bị cáo khác.
- Bị cáo T: Trong vụ trộm thứ nhất, bị cáo tích cực thực hiện; là người rủ bị cáo H phạm tội trong vụ trộm thứ 2, trực tiếp bán tài sản lấy tiền tiêu xài, có nhân thân xấu, có 01 tình tiết giảm nhẹ và 1 tình tiết tăng nặng nên áp dụng hình phạt trong khung hình phạt thấp hơn bị cáo H nhưng cao hơn các bị cáo H1 và M.
- Bị cáo H1 là đồng phạm thực hiện tích cực cùng bị cáo H và T, có tiền sự và nhân thân xấu, có 01 tình tiết tăng nặng và 01 tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng hình phạt trong khung hình phạt thấp hơn bị cáo H và T nhưng cao hơn bị cáo M.
- Bị cáo M là đồng phạm, tuy không tích cực như 3 bị cáo khác nhưng cũng tham gia từ đầu đến cuối vụ, có tiền sự và nhân thân xấu, đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, có 02 tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng hình phạt trong khung hình phạt thấp hơn bị cáo H, T và Hội.
Các bị cáo không có thu nhập ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[8] Về dân sự: Bị hại anh Bùi Hồng V đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì nên không xét.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo H đồng ý bồi thường cho bị hại anh H3 số tiền 16.000.000 đồng do một cây mai Dảo dáng hình L bị chết. Bị cáo H không yêu cầu các bị cáo khác liên đới bồi thường nên không xét.
[9] Đối với anh Lê Thanh X đã mua chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S23 FE nhưng khi mua không biết rõ tài sản do phạm tội mà có nên hành vi không cấu thành tội phạm. Anh Lê Thanh X không yêu cầu gì về số tiền 500.000 đồng nên không xét (Căn cứ vào giải đáp tại mục 3, Công văn số 233/TANDTC-PC ngày 01/10/2029 của Toà án nhân dân tối cao).
[10] Về vật chứng vụ án: Đã trả lại chủ sở hữu: 03 cây mai, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S23 FE, xe mô tô biển số 78H1-249.62, xe mô tô biển số 78C1-364.54, xe mô tô biển số 59S1-483.49, 01 điện thoại di động hiệu OPPO A55, 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max nên không xét.
[11] Về án phí: Các bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Bảo H;
- Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Ngọc T;
- Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Huỳnh Quốc H1;
- Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Huỳnh Tấn M;
- Khoản 1 Điều 48 BLHS, Điều 584, 585, 586, 587 và 589 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 và Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên bố:
Các bị cáo Đinh Bảo H, Đỗ Ngọc T, Huỳnh Quốc H1 và Huỳnh Tấn M đều phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt:
- Bị cáo Đinh Bảo H 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 07/5/2024.
- Bị cáo Đỗ Ngọc T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 07/5/2024.
- Bị cáo Huỳnh Quốc H1 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 10/5/2024.
- Bị cáo Huỳnh Tấn M 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Đinh Bảo H đồng ý bồi thường cho anh Nguyễn Văn H3 số tiền 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng) do một cây mai Dảo dáng hình long bị chết.
Về xử lý vật chứng:
không xét.
Về án phí:
Các bị cáo Đinh Bảo H, Đỗ Ngọc T, Huỳnh Quốc H1 và Huỳnh Tấn M, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Đinh Bảo H phải chịu 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Phú Yên;
- VKSND TP. Tuy Hòa;
- Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
- Công an TP. Tuy Hòa;
- Chi cục THADS TP. Tuy Hòa;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lương Văn Cang Lê Phú Hào |
Bùi Thị Thuỳ Trân |
Bản án số 116/2024/HSST ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 116/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đinh Bảo Hận và đồng phạm phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự
