TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 116/2024/DS-PT Ngày: 21-10-2024 V/v: Tranh chấp về thừa kế tài sản, Chia tài sản chung vợ chồng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các Thẩm phán: 1. Bà Trần Thị Mỹ Hải
2. Ông Nguyễn Quang Trung
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Quyên, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải; Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 10 năm 2024 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2024/TLPT - DS ngày 10 tháng 6 năm 2024, về việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 179/2024/QĐPT-DS ngày 14/8/2024; quyết định hoãn phiên tòa số 15/QĐPT-DS ngày 29/8/2024, quyết định hoãn phiên tòa số 18 /QĐPT-DS ngày 16/9/2024, quyết định hoãn phiên toà số 19/2024/QĐPT-DS ngày 24/9/2024 và quyết định hoãn phiên toà số 20/2024/QĐPT- DS ngày 01/10/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1971; Địa chỉ: Xóm H, xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Dương Đức T, Văn phòng L9 thuộc Đoàn luật sư tỉnh N; Địa chỉ: B P, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bị đơn có yêu cầu phản tố: Bà Đào Thị H, sinh năm 1964; Địa chỉ: Xóm H, xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: bà Hồ Thị Q, sinh năm 1954; Địa chỉ: xóm N, xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Hồ Thị Q: Luật sư Nguyễn Xuân H1; Công ty L10 thuộc Đoàn luật sư H5; Địa chỉ: Số D, đường P, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Dương Trường T1, sinh năm 1997; Địa chỉ: Xóm H, xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Cháu Dương Thị Hồng N, sinh ngày: 01/4/2006; Địa chỉ: Xóm H, xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật cho cháu N: Bà Đào Thị H; Địa chỉ: Xóm H, xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Ông Dương Hồng L, sinh năm 1983; Địa chỉ: Xóm N, xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bà Dương Thị L1, sinh năm 1953; Địa chỉ: Xóm T, xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt
- Bà Dương Thị Y, sinh năm 1962; Địa chỉ: Xóm H, xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Anh Dương Gia N1; sinh ngày: 12/02/2010; Địa chỉ: Xóm H, xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo pháp luật của anh Dương Gia N1: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1971; Địa chỉ: Xóm H, xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An (là mẹ anh N1). Có mặt.
* Người kháng cáo:
- Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1971; Địa chỉ: Xóm H, xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Là: Nguyên đơn trong vụ án.
- Bà Đào Thị H, sinh năm 1964; Địa chỉ: Xóm H, xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Là: Bị đơn có yêu cầu phản tố trong vụ án.
- Bà Hồ Thị Q, sinh năm 1954; Địa chỉ: xóm N, xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Là: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án.
- Ông Dương Hồng L, sinh năm 1983; Địa chỉ: Xóm N, xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Là: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
- Bà Dương Thị Y, sinh năm 1962; Địa chỉ: Xóm H, xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Là: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
- Bà Dương Thị L1, sinh năm 1953; Địa chỉ: Xóm T, xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Là: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
* Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/3/2022 của bà Nguyễn Thị S và B tự khai ngày 23/8/2022 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn trình bày:
Cha mẹ chồng bà S (ông A) là cụ Dương Văn L2 (chết năm 1998) và cụ Bùi Thị S1 (chết năm 2002) ở xóm Y, xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An có 04 người con là bà Dương Thị L1, sinh năm 1953; ông Dương Văn V, sinh năm 1952 (chết ngày 15/12/2011); bà Dương Thị Y, sinh năm 1962 và ông Dương Văn A, sinh năm 1965 (chết năm 2020).
Năm 1984, cha mẹ chồng bà S mua hai gian nhà gỗ gắn liền với đất của ông Dương Văn L3. Do pháp luật đất đai lúc đó cấm mua bán đất nên cha mẹ chồng bà S và ông L3 nhất trí viết giấy bán nhà cho ông V. Cụ L2 và cụ S1 trả cho ông L3 bằng thóc và tiền trị giá đủ 60.000 đồng. Năm 1994, cụ L2 và cụ S1 xây thêm hai gian nhà cho ông A ở, hiện nay mẹ con bà S đang ở. Việc cụ L2, cụ S1 cho ông V hai gian nhà nhà gỗ mà hiện nay bà H cùng các con đang ở, ông A ở hai gian nhà xây từ khi hai ông còn độc thân. Công trình vệ sinh và giếng nước dùng chung. Cha mẹ chỉ cho ở mà không phân định ranh giới rõ ràng. Cả bốn anh chị em đều nghe sắp đặt của cha mẹ không có tranh giành.
Thực tế suốt 17 năm kể từ khi cha mẹ xây nhà cho ông A năm 1994 đến khi ông V chết năm 2011 thì ông V và ông A không tranh chấp, điều tiếng gì và hai ông đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho từng người.
Sau khi ông V chết thì bà H rào ngăn không cho bà S sử dụng chung công trình vệ sinh và giếng nước. Ngày 05/6/2012, anh Dương Hồng L là con trai trưởng ông V đã có giấy viết tay ghi rõ đất do ông bà nội mua và có đơn gửi UBND xã Y đề nghị chia ba phần: mỗi phần 63m², phần anh L sẽ nhường lại cho bà L1 nhưng bà H không đồng ý. Ngày 06/7/2012, UBND xã Y lập biên bản giải quyết, phân tích thiệt hơn, anh L lại đề xuất chia cho ông A ½ và anh T1 ½ nhưng bà H không đồng ý, không ký vào biên bản. Bà H cho rằng đất là của ông V nên chỉ bà H có quyền thừa kế và ông V chỉ cho ông A mượn.
Do bà Q không yêu cầu chia thừa kế; bà H không được quyền thừa kế do không có đăng ký kết hôn hợp pháp nên bà S yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đô Lương chia thừa kế thửa đất số 172, tờ bản đồ số 10, diện tích 208,3m², địa chỉ thửa đất xóm H, xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Chia thửa đất cho hàng thừa kế của cụ Dương Văn L2 và cụ Bùi Thị S1 gồm bà L1, bà Y, ông V, ông A (anh L, anh T1, chị N được hưởng suất thừa kế của ông V), (bà S và cháu N1 hưởng suất thừa kế của ông A). Không tính giá trị nhà bà H xây dựng vì bà H xây khi đã có “Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời”.
Đề nghị giao cho bà L1 toàn bộ hai gian nhà chính và hai gian nhà tạm và thửa đất số 172 cho bà L1 và bà L1 có nghĩa vụ trích chia kỳ phần cho các thừa kế bằng tiền mặt.
Bị đơn bà Đào Thị H trình bày:
Năm 1995 bà H và ông V sống chung với nhau như vợ chồng, hai bên nội ngoại có gặp mặt, ăn hỏi và có làm mâm cơm, sau khi cưới hai vợ chồng sống trên thủa đất tranh chấp đến năm 2011 ông V mất. Đối với thửa đất đang tranh chấp là do bố mẹ chồng mua nhưng đã cho ông V, khi bà H về đã có hai gian nhà cấp 4. Quá trình chung sống bà H và ông V có 02 người con đó là cháu Dương Trường T1, sinh năm 1997 và cháu Dương Hồng N, sinh năm 2006. Quá trình chung sống vợ chồng đã sửa nhà mấy lần để ở. Yêu cầu chia thừa kế thừa đất trên cho ông A và ông V, bà H không nhất trí vì đây là tài sản của ông V và chia thừa kế cho bà H và hai con. Còn việc xử lý tài sản của ông A thì do Tòa án quyết định.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Hồ Thị Q và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trình bày: Năm 1980, bà Hồ Thị Q đã chung sống vợ chồng với ông Dương H2 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y. Năm 1983 vợ chồng có một con chung là Dương Hồng L. Năm 1984, hai vợ chồng bà Q và ông V có mua một mảnh đất của ông Dương Văn L3. Trong quá trình chung sống ông V thường xuyên ngoại tình, có nhiều mối quan hệ với nhiều người phụ nữ khác nên đến năm 1988, bà Q ôm con bỏ về xã B sinh sống. Đến năm 1996 ông V chung sống với bà Hồ Thị H3 trên mảnh đất mà vợ chồng bà Q, ông V mua và sinh được 02 người con là Dương Trường T1 và Dương Thị Hồng N. Năm 2011, ông Dương Hồng V1 qua đời thì hiện nay mẹ con bà Đào Thị H và vợ chồng ông Dương Văn A sinh sống trên mảnh đất của vợ chồng ông V1 và bà Q. Tại Bản án số 24/2018/HCST của Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An cũng nhận định việc ông L2 và bà S1 mua mảnh đất trên là không có cơ sở. Giai đoạn mua nhà năm 1984 ông V1, bà Q không phải ly thân mà bà Q đưa con về cơ quan để tiện bề chăm sóc. Trong thời gian này ông V1 và bà Q sống ở khu tập thể Bệnh viện và việc mua nhà bà Q có góp 20.000 đồng (số tiền này do bà L1 làm cùng bà Q trả nợ). Vì vậy, bà Hồ Thị Q yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đô Lương tuyên ½ thửa đất trên thuộc quyền sử dụng của bà Q; Chia thừa kế ½ thửa đất trên cho 04 đồng thừa kế của ông V1 đó là bà Q, anh L, cháu N, cháu T1; Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị S; Bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bà Đào Thị H.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Dương Văn L4: đồng ý với ý kiến của bà Hồ Thị Q và yêu cầu được hưởng một phần di sản của cha đẻ Dương Hồng V1 để lại.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình giải quyết vụ án anh Dương Trường T1, Dương Thị Hồng N đồng ý với ý kiến của bị đơn bà Đào Thị H và yêu cầu được chia di sản của bố Dương Hồng V1 để lại.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị L1 và bà Dương Thị Y đồng ý với ý kiến của bà Nguyễn Thị S cho rằng bố mẹ mua đất chưa cho ai nên là di sản thừa kế của bốn anh em và yêu cầu chia thừa kế cho 4 người là bà L1, bà Y, ông V1 (cháu L4, cháu T1, cháu N được hưởng), ông A (bà S và cháu N1 hưởng).
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 75/2023/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 và Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986;
Căn cứ vào các Điều 623, 625, 649, 650, 651, khoản 2 Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 74, khoản 2 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27, 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S về việc yêu cầu chia di sản thừa kế tài sản quyền sử dụng đất 206,4m² tại thửa số 172, tờ bản đồ số 10, địa chỉ xóm Y (nay xóm H), xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An mang tên ông Dương Hồng V1.
- - Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đào Thị H.
- Không chấp nhận yêu cầu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Hồ Thị Q.
Chấp nhận một phần yêu cầu chia di sản thừa kế của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Dương Hồng L, Dương Trường T1 và cháu Dương Thị Hồng N.
Do ông Dương Hồng V1 (Dương Văn V) chết không để lại di chúc nên khối di sản của ông Dương Hồng V1 để lại sau khi trích công sức đóng góp cho người quản lý di sản và được chia thừa kế theo luật cho các đồng thừa kế thuộc hàng thừa nhất là các con đẻ của ông Dương Hồng V1 gồm Dương Hồng L, Dương Trường T1 và Dương Thị Hồng N.
Buộc bà Đào Thị H và bà Nguyễn Thị S phải giao lại diện tích đất 206,4 m² và tài sản gắn liền với đất tại thừa số 172 tờ bản đồ số 10 thuộc xóm Y (nay xóm H), xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An cho các đồng thừa kế là Dương Hồng L, Dương Trường T1 và Dương Thị Hồng N để chia di sản thừa kế.
Di sản của ông Dương Hồng V1 để lại gồm: Quyền sử dụng đất 206,4m² gắn liền với nhà cấp 4 trị giá 8.259.000.000₫ và ½ trị giá nhà cấp 4 và nhà ràn là 8.710.500đ (đây là các tài sản do ông V1 và bà H tạo lập trong thời gian chung sống với nhau nên mỗi người được chia ½ trị giá). Tổng trị giá 8.267.710.500₫.
Số tiền phải trích công sức cho bà H từ khối di sản thừa kế của ông Dương Hồng V1 là 1.500.000.000đ và cho bà S (vợ ông A) và cháu Nghĩa là 1.500.000.000₫ và đền bù tài sản trị giá nhà cho bà S (vợ ông A) và cháu Dương Gia Nghĩa L5 10.000.000. Tổng cộng 1.510.000.000₫.
Tổng trị giá phần di sản của ông V1 còn lại là 5.267.710.500₫ được chia cho ba suất thừa kế, mỗi suất thừa kế gồm anh L, anh T1 và cháu N được hưởng là 1.755.903.000₫.
Như vậy:
Kỷ phần chia di sản thừa kế của ông Dương Hồng V1 (Dương Văn V) được phân chia như sau:
* Về chia hiện vật:
- Chia cho anh Dương Trường T1 và cháu Dương Thị Hồng N được quyền sử dụng 137,4m² đất, trị giá 5.496.000.000 đồng (Năm tỷ, bốn trăm chín mươi sáu triệu đồng) tại thửa đất số 172 tờ bản đồ số 10 thuộc xóm Y (nay xóm H), xã Y, huyện Đ, Nghệ An có tứ cận: phía Tây giáp phần đất của ông Nguyễn Văn X (Thửa 151 và 161) có chiều dài gồm các đoạn 1,33m; 0,29m; 16,17m và 0,88m; phía Nam giáp Quốc lộ G có chiều dài 5,80m; phía Đông giáp phần đất chia cho anh Dương Hồng L có chiều dài 18,83m; phía Bắc giáp đất ông Dương Văn D (thừa số 541) có chiều dài gồm các đoạn 7,52m và 0,66 m.
- Chia cho anh Dương Hồng L được quyền sử dụng diện tích đất 69m², trị giá 2.760.000.000 đồng (Hai tỷ, bảy trăm sáu mươi triệu đồng) tại thửa đất số 172 tờ bản đồ số 10 thuộc xóm Y (nay xóm H), xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An có tứ cận: phía Nam giáp Quốc lộ G, chiều dài 4,00 m; phía Đông giáp đất hộ ông Kiều Kim Đ có chiều dài các đoạn 10,58m và 3,08 m; phía Tây giáp phần đất chia cho anh Dương Trường T1 và cháu Dương Thị Hồng N có chiều dài: 18,83m; phía Bắc giáp đất hộ ông Nguyễn Trọng H4 (thửa 162) có chiều dài gồm các đoạn: 3,30m; 1,92m và 2,46m.
* Về tài sản gắn liền với đất: Giao cho anh Dương Hồng L sở hữu 01 nhà ràn phía sau trị giá 3.000.000₫ và 01 ngôi nhà cấp 4, mái ngói nền xi măng trị giá 10.000.000đ (nhà của ông Dương Văn A xây dựng năm 1994).
(Có sơ đồ phân chia nhà đất kèm theo).
Anh Dương Hồng L, anh Dương Trường T1 và cháu Dương Thị Hồng N được quyền đến cơ quan quản lý đất đai đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Anh Dương Hồng L phải trích cho bà Nguyễn Thị S và cháu Dương Gia N1 số tiền 1.010.000.000₫ (một tỷ không trăm mười triệu đồng) trong đó 1.000.000.000 đồng là tiền công sức tôn tạo và 10.000.000 đồng trích giá trị tài sản. Chia kỳ phần cháu Dương Gia N1 hưởng 505.000.000 đồng (năm trăm linh năm triệu đồng), bà Nguyễn Thị S hưởng 505.000.000 đồng (năm trăm linh năm triệu đồng). Tuy nhiên do cháu N1 còn nhỏ nên giao cho bà Nguyễn Thị S quản lý số tiền trên. Anh Dương Hồng L phải trích cho bà Đào Thị H số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn đồng).
Anh Dương Trường T1 và cháu Dương Thị Hồng N phải trích cho bà Đào Thị H số tiền 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm ngàn đồng) và phải trích cho bà Nguyễn Thị S và cháu Dương Gia N1 số tiền 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng). Chia kỳ phần cháu Dương Gia N1 hưởng 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng), bà Nguyễn Thị S hưởng 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng). Tuy nhiên do cháu N1 còn nhỏ nên giao cho bà Nguyễn Thị S quản lý số tiền trên.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng, lãi suất do chậm thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05 tháng 12 năm 2023 nguyên đơn bà Nguyễn Thị S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị L1, Dương Thị Y kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 72/2023/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An với lý do: kết luận trong bản án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà và con bà; đề nghị cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Ngày 06/12/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Hồ Thị Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Dương Hồng L kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 72/2023/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An với lý do:
- - Tòa án cấp sơ thẩm chưa đánh giá đầy đủ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, chưa nhận định đúng về bản chất vụ án. Trong quá trình giải quyết, bà Q đã nộp các tài liệu chứng minh hôn nhân hợp pháp giữa bà và ông V và về việc thửa đất đang tranh chấp được mua bằng tài sản chung giữa bà và ông V nhưng những tài liệu, chứng cứ này không được Tòa án nhận định, đánh giá.
- - Hội đồng xét xử sơ thẩm không vô tư khách quan trong khi giải quyết vụ án, làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của gia đình bà Q.
- - Kết luận trong bản án không khách quan, không dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
- - Hội đồng xét xử đã vượt thẩm quyền khi tuyên nguyên đơn được nhận tiền tôn tạo đất trong khi nguyên đơn không có bất kỳ công sức nào trong việc tôn tạo, làm tăng giá trị thửa đất. Bản thân nguyên đơn cũng không có yêu cầu Tòa án xem xét tính công sức tôn tạo, trông nom, giữ gìn di sản thừa kế. Hơn nữa, bà S sử dụng nhà đất là tài sản chung giữa bà và ông V bao nhiêu năm nay mà không phải trả tiền thuê nhà là đã được hưởng lợi về tài sản, do đó, không có căn cứ để xem xét tính công sức tôn tạo, trông nom giữ di sản thừa kế cho bà S.
Yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm: sửa Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương theo hướng tuyên ½ thửa đất 1585, tờ bản đồ số 02 tại xóm Y, xã Y, huyện Đ là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà; chia thừa kế đối với ½ thửa đất 1585, tờ bản đồ số 02 tại xóm Y, xã Y, huyện Đ cho 4 đồng thừa kế của ông Dương Hồng V1 theo quy định của pháp luật; không xem xét tính công sức tôn tạo, trông nom thửa đất cho bà S (nguyên đơn).
Ngày 15/12/2023, bị đơn trong vụ án là bà Đào Thị H kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 72/2023/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An với lý do: ông A chỉ mượn đất của ông Dương Hồng V1 để xây ốt làm ăn nên bà S không có quyền thừa hưởng, chỉ ông V1 và mẹ con bà được hưởng. Ngoài ra, không có ai được hưởng, mẹ con bà Q đã bỏ đi về L; còn năm 1983 bà Q đã trú tại Bệnh viện huyện Đ và sinh một cháu trai là Dương Hồng L nhưng đến ngày 3/4/1984 ông Dương Văn L3 mới viết Giấy bán nhà và số đất liền cư cho ông Dương Hồng V1. Giấy mua bán có chứng nhận của UBND xã lúc đó ông Nguyễn Sỹ S2, Chủ tịch UBND xã ký và cho phép ông L3 bán nhà và đất liền cư cho ông V1. Ngày 4/4/1984, ông Dương Văn L2 có đơn xin cấp đất ở tại vị trí của ông Dương Văn L3, được chính quyền UBND xã chấp thuận, cấp cho ông Dương Hồng V1 8 thước tại vị trí của ông Dương Văn L3 bán nhà liền cư từ gian thứ 2 trở đi, từ 1984 đến nay gia đình bà đã nộp thuế đất ở đầy đủ. Bà đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An buộc mẹ con bà S phải tháo dỡ ốt quán và ra khỏi thửa đất số 172, trả lại cho gia đình mà mẹ con bà không phải đền tiền cho bà S, Tòa án Đô Lương chia cho bà bằng phần mẹ con bà S là không đúng. Yêu cầu chỉ chia di sản thừa kế của ông V1 cho bà và hai con chung của bà và ông V1 là Dương Trường T1 và Dương Thị Hồng N.
Ngày 03/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An có quyết định kháng nghị phúc thẩm số 30/QĐ-VKS-DS kháng nghị phúc thẩm đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 72/2023/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An vì cho rằng quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm có những vi phạm:
- - Giải quyết vụ án không đúng quy định: Theo Bản án sơ thẩm bà Nguyễn Thị S khởi kiện yêu cầu chia thửa đất số 172 tờ bản đồ số 10 thuộc xóm Y (nay là xóm H), xã Y, huyện Đ là di sản thừa kế của bố mẹ chồng bà S là cụ Dương Văn L2 (chết năm 1998), cụ Bùi Thị S1 (chết năm 2002) để lại cho các đồng thừa kế; bị đơn bà Đào Thị H có đơn phản tố cho rằng thửa đất tranh chấp là tài sản của ông Dương Văn V (chồng của bà H) chết để lại, nên bà yêu cầu Tòa án chia thừa kế cho bà và 2 con chung; bà Hồ Thị Q là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án xác định thửa đất tranh chấp là tài sản chung của bà và ông V, tuyên ½ thửa đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà Q, ½ thửa đất là di sản thừa kế của ông V và yêu cầu chia di sản thừa kế của ông V. Bản án sơ thẩm xác định tài sản đang tranh chấp có nguồn gốc là di sản thừa kế của ông Dương Văn V, nên quyết định bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà S, bà H và bà Q. Tuy nhiên, khi không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà S, bà H và bà Q thì cấp sơ thẩm lại phân chia di sản thừa kế theo yêu cầu của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Dương Hồng L (con chung ông V với bà Q); anh Dương Trường T1, chị Dương Thị Hồng N (con chung ông V với bà H) trong khi những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan này đều không có đơn yêu cầu độc lập. Đồng thời, Bản án sơ thẩm trích công sức cho ông A (người thừa kế bà S, cháu N1) mà không trích công sức quản lý di sản cho bà S là không phù hợp.
- - Không đưa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng: Bản án sơ thẩm nhận định, quyết định trích công sức quản lý di sản cho ông A và xác định bà S và cháu Nghĩa là người thừa kế của ông A, nhưng không đưa cháu Dương Gia N1 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là không đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Nhận định và quyết định không phù hợp: Bản án sơ thẩm nhận định di sản thừa kế của ông V để lại là 206,4m² đất, trị giá 8.259.000.000 đồng; ½ giá trị nhà cấp 4 và nhà ràn trị giá 8.710.500 đồng. Tổng di sản là 8.267.710.500 đồng nhưng tổng trị giá di sản Bản án quyết định chia cho các đồng thừa kế chỉ là 8.259.000.000 đồng (5.496.000.000₫ + 2.760.000.000₫ + 3.000.000₫) là chưa đầy đủ, bỏ sót di sản thừa kế. Đồng thời, Bản án sơ thẩm nhận định do yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S không được chấp nhận nên bà S phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định. Tuy nhiên, tại phần quyết định của Bản án quyết định anh L, anh T1, cháu N mỗi người phải chịu 2.500.000 đồng chi phí thẩm định là mâu thuẫn với nhận định của bản án.
- - Giải quyết án phí dân sự sơ thẩm không đúng quy định: Bản án sơ thẩm đã bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà S (vì lý do tài sản không thuộc quyền thừa kế của bà S) nhưng lại quyết định trả lại 7.950.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị S là không đúng quy định. Đồng thời, miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà H, anh T1, cháu N do thuộc diện hộ nghèo nhưng tại Giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2022 - 2025 thể hiện gia đình bà H được chứng nhận hộ nghèo năm 2022 mà không phải được chứng nhận tại thời điểm xét xử sơ thẩm vụ án. Và Bản án sơ thẩm buộc anh T1, cháu Ngọc T2 công sức cho bà H 1.500.000.000 đồng, bà S 500.000.000 đồng; buộc anh L trích công sức cho bà S 1.500.000.000 đồng nhưng không buộc anh T1, cháu N và anh L phải chịu án phí đối với phần trích công sức cho bà H, ông A (người thừa kế bà S, cháu N1) là không đúng quy định của pháp luật.
Đề nghị cấp phúc thẩm áp dụng Điều 308, Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 theo hướng hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm và đình chỉ một phần giải quyết vụ án.
Tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị Y, Dương Thị L1 giữ nguyên nội dung kháng cáo, nội dung khởi kiện, đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, kháng nghị, hủy Bản án sơ thẩm. Bị đơn bà Đào Thị H đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, đề nghị sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chia di sản thừa kế cho bà và hai con chung Dương Trường T1, Dương Thị Hồng N; không đồng ý trích công sức cho ông Dương Văn A, bà Nguyễn Thị S, không đồng ý chia di sản thừa kế cho anh Dương Hồng L. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Q đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, đề nghị sửa Bản án sơ thẩm theo hướng tuyên ½ thửa đất 1585 là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Q; đối với ½ còn lại của thửa đất 1585 thì chia thừa kế cho 3 đồng thừa kế của ông Dương Hồng V1 (là anh L, anh T1 và cháu N) theo quy định của pháp luật; không xem xét tính công sức tôn tạo, trông nom thửa đất cho bà S (nguyên đơn).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Tại phiên toà phúc thẩm, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về tính có căn cứ, hợp pháp của kháng cáo, kháng nghị: Kháng cáo của bà Nguyễn Thị S, bà Dương Thị Y, Dương Thị L1, bà Đào Thị H, bà Hồ Thị Q, anh Dương Hồng L đúng thời hạn; bà S và anh L đã nộp tiền tạm ứng án phí đầy đủ còn bà Y, bà L1, bà H, bà Q thuộc diện được miễn tiền tạm ứng án phí nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý là đúng quy định.
- Về nội dung kháng cáo, kháng nghị: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 308, Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị Y, Dương Thị L1 về nội dung Bản án sơ thẩm có vi phạm thủ tục tố tụng; chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm và đình chỉ một phần giải quyết vụ án.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị S, bà Dương Thị Y, Dương Thị L1, Đào Thị H, Hồ Thị Q không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Anh Dương Hồng L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về thừa kế tài sản, chia tài sản chung vợ chồng thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương theo quy định tại khoản 5 Điều 26; Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị S, bị đơn bà Đào Thị H, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị Y, Dương Thị L1, Hồ Thị Q, Dương Hồng L có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, hình thức và nội dung đơn kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Dương Trường T1, cháu Dương Thị Hồng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, cháu N đã có người đại diện theo pháp luật là bà Đào Thị H tham gia phiên tòa. Theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan này. Đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã hỏi ý kiến của các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không nhưng các đương sự không thỏa thuận được. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị Y, Dương Thị L1, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1]. Về nội dung kháng cáo kết luận trong bản án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét thấy: Tại Đơn khởi kiện cũng như quá trình giải quyết vụ án, bà S, bà Y, bà L1 thống nhất trình bày: nguồn gốc nhà và đất tại thửa đất số 172, tờ bản đồ số 10 (gọi tắt là thửa đất số 172) là tài sản của cụ Dương Văn L2 (chết năm 1998) và cụ Bùi Thị S1 (chết năm 2002) nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh đây là tài sản của hai cụ. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự cũng thừa nhận hồ sơ, tài liệu, bản đồ địa chính qua các thời kỳ chưa bao giờ đứng tên hai cụ. Do đó, khi xét xử sơ thẩm, cấp sơ thẩm đã căn cứ vào giấy xin bán nhà ngày 03/4/1984 của ông Dương Văn L3 lập có nội dung bán 02 gian nhà gắn liền với đất cho ông Dương Hồng V1 với giá 60.000đ. Giấy xin bán nhà này có xác nhận của UBND xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An vào ngày 04/4/1984. Nội dung của giấy xin bán nhà ngày 03/4/1984 là phù hợp với lời khai ban đầu của ông L3 là ông chỉ giao dịch với ông L2 và ông L2 mua cho con cũng như nội dung đơn xin mua nhà ở liền chân ngày 04/4/1984 ông L2 khẳng định xin đất ở cho con là Dương Văn V. Trong đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông V cũng khẳng định là ông L3 bán nhà cho ông L2 và người sử dụng là ông Dương Văn V. Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho rằng người làm chứng ông Dương Văn L3 đã có lời khai năm 1984 có khó khăn nên có gọi ông L2 để bán đất, lấy tiền và lúa, lúc đó ông V và ông A đang ở bộ đội nhưng lời khai này của ông L3 có mâu thuẫn với lời khai trước đây và không chính xác vì năm 1984 ông V đã nghỉ chế độ. Mặt khác, tại Bản án hành chính sơ thẩm số 24/2018 ngày 01/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và Bản án hành chính phúc thẩm số 180/2019/HC-PT ngày 07/8/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số 0115942 ngày 27/10/1999 cấp cho ông Dương Hồng V1 thuộc thửa đất số 1858 tờ bản đồ số 2 tại xóm Y, xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An của UBND huyện Đ, không phải lý do là thửa đất số 1585 tờ bản đồ số 2 (tức là thửa 172, tờ bản đồ số 10) tại xóm Y, xã Y, huyện Đ không phải của ông Dương Hồng V1 mà khẳng định giao dịch mua bán nhà giữa ông Dương Văn V và ông Dương Văn L3 đã được UBND xã Y xác nhận hợp pháp. Việc hủy GCNQSD đất là do Ủy ban nhân dân huyện Đ khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông V không thực hiện đúng quy trình thẩm tra xác minh thực địa, không xem xét quyền sở hữu nhà của ông A trên đất sử dụng từ năm 1994 mà cấp GCNQSD cho ông V là không đúng trình tự thủ tục quy định của Luật Đất đai 2003 và Thông tư số 346/1998 TT-TCĐC ngày 30/11/1993 của Tổng cục Địa chính hướng dẫn thi hành về việc cấp GCNQSDĐ. Do đó, cấp sơ thẩm xác định nguồn gốc tài sản gồm 02 gian nhà gắn liền diện tích đất tại thửa số 172 là tài sản được quyền sở hữu và sử dụng hợp pháp của ông Dương Hồng V1 để lại sau khi chết là có căn cứ, phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự nên nội dung kháng cáo này của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không có căn cứ để chấp nhận.
[2.2]. Về nội dung kháng cáo có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng: Tại đơn kháng cáo, nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho rằng Bản án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nhưng không nêu rõ là những vi phạm gì. Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho rằng cấp sơ thẩm có vi phạm tố tụng, đó là: không đưa cháu Dương Gia N1 vào tham gia tố tụng; chấp nhận thủ tục uỷ quyền của anh Dương Trường T1 cho bà Đào Thị H nhưng tại Giấy uỷ quyền năm 2018 (BL 192) là uỷ quyền từ khi giải quyết vụ án hành chính chứ không phải trong vụ án dân sự này; không có tài liệu, chứng cứ chứng minh thửa đất số 172 là của ông V1; không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nguồn tiền mua nhà của ông L3 là có 40.000 đồng tiền ra quân của ông V1; không có tài liệu, chứng cứ chứng minh ngôi nhà của bà S đang ở là do ông A xây dựng.
Xét thấy, đối với nội dung kháng cáo không đưa cháu Dương Gia N1 vào tham gia tố tụng (nội dung kháng cáo này trùng với nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An) thì căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn xuất trình tại phiên toà phúc thẩm như bản sao Giấy khai sinh, căn cước công dân của cháu Dương Gia N1, có cơ sở để xác định cháu Dương Gia N1 sinh ngày 12/02/2010 nên quá trình giải quyết vụ án cháu chưa đủ 18 tuổi. Người đại diện hợp pháp của cháu là nguyên đơn trong vụ án (bà Nguyễn Thị S) nên tuy trong quá trình tố tụng cháu N1 không tham gia nhưng đã có người đại diện hợp pháp của cháu tham gia. Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị S cũng không kháng cáo về nội dung trích công sức cho cháu Dương Gia N1. Hơn nữa, tuy tại phần đầu của Bản án không đưa cháu N1 vào danh sách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng khi phân chia di sản thừa kế tại phần quyết định, cấp sơ thẩm vẫn trích công sức cho cháu N1 bằng tiền, giao quyền quản lý số tiền cho bà Nguyễn Thị S là đã đảm bảo quyền lợi của cháu N1 nên tuy nội dung kháng cáo này của nguyên đơn là có cơ sở, cấp sơ thẩm có thiếu sót, cần rút kinh nghiệm nhưng không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm.
Đối với nội dung kháng cáo chấp nhận thủ tục uỷ quyền của anh Dương Trường T1 cho bà Đào Thị H là vi phạm về mặt tố tụng nên cần chấp nhận một phần nội dung kháng cáo này của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Y, bà L1. Tuy nhiên, vi phạm tố tụng này không làm thay đổi bản chất vụ án, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm. Đối với các nội dung kháng cáo “Không có tài liệu, chứng cứ chứng minh thửa đất số 172 là của ông V1; không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nguồn tiền mua nhà của ông L3 là có 40.000 đồng tiền ra quân của ông V1; không có tài liệu, chứng cứ chứng minh ngôi nhà của bà S đang ở là do ông A xây dựng” là những kháng cáo về nội dung giải quyết vụ án, không phải là vi phạm về mặt tố tụng nên không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo này của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị L1, Dương Thị Y.
[2.3]. Về nội dung kháng cáo có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, Hội đồng xét thấy: Như đã phân tích ở trên, nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế đối với thửa đất số 172 nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh là tài sản của cụ L2 và cụ S1, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên không có cơ sở để chấp nhận nội dung kháng cáo này. Đối với nội dung về việc nguyên đơn đã bổ sung 02 yêu cầu tại phiên tòa ngày 15/9/2023, Hội đồng xét thấy: đối với yêu cầu về việc không xem xét công sức của bà Đào Thị H do bà H đã phá bỏ 55,4m² nhà và ki ốt để xây nhà mới sau khi Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2022/QĐ-BPKHTT ngày 12/7/2022 thì quá trình giải quyết vụ án, các đương sự cũng thừa nhận từ năm 1995, bà H đã làm lễ cưới với ông V1 và sau đó về sống chung với ông V1 tại thửa đất số 172 từ năm 1996 cho đến nay nên cấp sơ thẩm xem xét trích công sức tôn tạo, bảo quản tài sản cho bà H là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật. Đối với nội dung kháng cáo tại phiên tòa bà S đã bổ sung nội dung khởi kiện yêu cầu chia thừa kế 04 tài sản gắn liền với đất gồm: “02 (hai) gian nhà gỗ mua của ông L3 năm 1984 có diện tích 3,4m²; Ki ốt có diện tích 25,1m² do bà Phan Thị N2 ở xóm H, xã Y xây năm 2006 và trừ vào tiền thuê mà bà Đào Thị H đã phá dỡ năm 2022; 02 (hai) gian nhà và bếp áp hồi do ông Dương Văn L2 xây dựng năm 1994 có diện tích 32,8m²; nhà ràn mái che diện tích 18,2m² có từ năm 1985, sửa năm 2000 sử dụng chung làm công trình WC và ông Dương Văn V nấu ăn. Sau khi ông V chết thì năm 2012 bà Đào Thị Hà R lại và chiếm dụng đến nay”. Tuy nhiên, tại đơn khởi kiện cũng như quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chỉ yêu cầu Toà án chia thừa kế quyền sử dụng đất tại thửa đất số 172, không yêu cầu phân chia di sản thừa kế đối với các tài sản khác, đến phiên toà mới yêu cầu là đã vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, cấp sơ thẩm không xem xét là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên không chấp nhận nội dung kháng cáo này của bà S, bà L1 và bà Y.
[3]. Xét nội dung kháng cáo của bị đơn bà Đào Thị H, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[3.1] Về nội dung kháng cáo đề nghị sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chia di sản thừa kế cho bà H và hai con chung Dương Trường T1, Dương Thị Hồng N, Hội đồng xét xử xét thấy: quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm, bà H thừa nhận không cung cấp được đăng ký kết hôn giữa bà và ông V; theo kết quả xác minh tại UBND xã Y và T không có hồ sơ lưu trữ đăng ký kết hôn của bà H và ông V nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông V không phải là hôn nhân hợp pháp, do đó bà H không có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Dương Hồng V1. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm đã thụ lý giải quyết và quyết định không chấp nhận đơn phản tố của bà H là không đúng quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 04/2017. Do Toà án cấp sơ thẩm đã thụ lý yêu cầu này, nên cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm, căn cứ quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217; điểm a khoản 1 Điều 192; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ đối với yêu cầu phản tố của bà H, trả lại đơn phản tố cùng các tài liệu liên quan cho bị đơn.
[3.2] Đối với nội dung kháng cáo không đồng ý trích công sức cho ông Dương Văn A, bà Nguyễn Thị S, không đồng ý chia di sản thừa kế cho anh Dương Hồng L, Hội đồng xét xử xét thấy: quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, các đương sự đều thừa nhận đối với ông Dương Văn A là em trai của ông V1, ông A đã sinh sống tại 02 gian nhà trên thửa đất số 172 để làm ki ốt kinh doanh từ năm 1994 và đã nộp thuế quyền sử dụng đất theo nghĩa vụ Nhà nước các năm 1994, 1995 và năm 1996. Năm 1996 do buôn bán khó khăn ông A vào miền N làm ăn cho đến năm 2011 ông A cùng vợ và con trai về sinh sống trong ngôi nhà đã được xây dựng trên thửa đất số 172 cho đến nay. Do ông A và bà S đã sinh sống trên thửa đất số 172 một thời gian dài, cấp sơ thẩm trích công sức là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị đơn. Đối với anh Dương Hồng L, bà H không đồng ý chia di sản thừa kế nhưng quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, các đương sự đều thừa nhận bà Q sống chung với ông V1 từ năm 1980, đến ngày 16/01/1983 thì bà Q sinh anh Dương Hồng L. Căn cứ vào bản sao Giấy khai sinh của anh L thể hiện họ tên bố là ông Dương Hồng V1. Nguyên đơn bà S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Y, bà L1 cũng thống nhất thừa nhận anh L là con đẻ của ông Dương Hồng V1. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bà H cũng không có yêu cầu xác định cha cho con đối với anh Dương Hồng L bằng giám định gen ADN nên không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị đơn.
[4]. Xét nội dung kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Q và anh Dương Hồng L:
[4.1]. Xét nội dung kháng cáo yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Dương Hồng V1 là ½ thửa đất 1585 (tức là thửa đất số 172), Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Q cho rằng thửa đất số 172 được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp giữa bà và ông V1, nguồn tiền để mua đất 20.000đ là do lấy nợ từ bà Nguyễn Thị L6 tuy nhiên bà Q không xuất trình được đăng ký kết hôn giữa bà và ông V1. Kết quả xác minh tại UBND xã Y cũng không cung cấp được số sách về kết hôn trước năm 2000. Tại phiên toà phúc thẩm, bà Q thừa nhận bà sống chung với ông V1 từ năm 1980, đến năm 1983, bà sinh anh L. Quá trình này do bà Q làm việc tại bệnh viện Đ nên bà và ông V1, anh L sinh sống tại khu tập thể bệnh viện. Đến tháng 8 năm 1986, bà Q và ông V1 sống ly thân, bà Q vẫn ở tại khu tập thể bệnh viện Đ còn ông V1 sinh sống tại nhà và đất ở thửa đất số 172. Bà Q cũng thừa nhận sau thời điểm bà không sống chung với ông V1 nữa thì đã sống chung với ông Lê Văn L7 từ cuối năm 1986 và có một con chung với ông L7 là chị Lê Thị Bích L8, sinh ngày 01/6/1987, bố chị L8 là ông Lê Văn L7. Tại phiên toà, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Q cho rằng căn cứ và o quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 thì cho dù ông V1, bà Q không có đăng ký kết hôn nhưng do quan hệ hôn nhân giữa bà Q và ông V1 được xác lập trước ngày 03/01/1987 nên là hôn nhân thực tế. Tuy nhiên, căn cứ vào sự thừa nhận của đương sự tại phiên toà cũng như dựa vào thời điểm bà Q sinh chị L8 (ngày 01/6/1987) thì có cơ sở để xác định ông V1 và bà Q đã không sống chung với nhau từ tháng 8/1986. Tiếp sau đó, từ cuối năm 1986, bà Q đã sống chung như vợ chồng với ông L7 và có một con chung với ông L7. Theo xác minh tại UBND xã B thì bà Q và ông L7 cũng không có đăng ký kết hôn nên dựa vào thời điểm sống chung giữa các đương sự thì có cơ sở để khẳng định quan hệ hôn nhân giữa bà Q và ông V1 cũng như quan hệ hôn nhân giữa bà Q và ông L7 đều là hôn nhân thực tế. Nhưng quan hệ hôn nhân thực tế giữa bà Q và ông V1 đã chấm dứt từ tháng 8 năm 1986 nên không còn nghĩa vụ gì với nhau, sau khi chấm dứt quan hệ hôn nhân với ông V1 thì từ cuối năm 1986 bà Q đã sống chung, xác lập quan hệ hôn nhân thực tế với ông L7, có con chung với ông L7. Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy các tình tiết, sự kiện pháp lý trong vụ án mà Tòa án đang giải quyết và Án lệ số 41/2021/AL là tương tự nhau nên có căn cứ để áp dụng Án lệ số 41/2021/AL xác định quan hệ hôn nhân thực tế đầu tiên giữa bà Q và ông V1 đã chấm dứt. Vì vậy, bà Q không có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Dương Hồng V1. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm đã thụ lý giải quyết và quyết định không chấp nhận đơn yêu cầu độc lập của bà Q về phân chia di sản thừa kế là không đúng quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 04/2017. Do Toà án cấp sơ thẩm đã thụ lý yêu cầu này, nên cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, căn cứ quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217; điểm a khoản 1 Điều 192; Điều 186 đình chỉ đối với một phần yêu cầu độc lập của bà Q về việc chia di sản thừa kế của ông Dương Hồng V1.
[4.2]. Xét nội dung kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng tuyên ½ thửa đất 1585 (tức là thửa đất số 172) là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Q; Hội đồng xét xử xét thấy: Như đã phân tích ở trên, nguồn gốc tài sản thừa kế là do ông L2 mua cho ông V1. Bà Q trình bày nguồn tiền để mua đất 20.000₫ là do lấy nợ từ bà Nguyễn Thị L6 nhưng tại “Biên bản lấy lời khai” ngày 03/10/2023, bà L6 cũng thừa nhận “Khi đó tôi có tiền thì tôi đến trả nợ chứ không phải do bà Q hỏi, việc mua bán đất tôi không hề biết”. Mặt khác, trong “Giấy xin bán nhà” đề ngày 3/4/1984 thể hiện số tiền mua bán là 60.000 đồng nên không có cơ sở để xác định nguồn gốc số tiền mua đất là từ tiền lấy nợ bà Nguyễn Thị L6 như bà Q đã trình bày. Tại phiên toà phúc thẩm, bà Q trình bày bà và ông V1 mua nhà và đất tại thửa đất số 172 từ thời điểm năm 1984 nhưng tại phiên toà, bà Q cũng thừa nhận thời điểm từ năm 1984 đến tháng 8 năm 1986, bà và anh L vẫn sống tại khu tập thể bệnh viện Đ, còn ông V1 sinh sống tại nhà và đất ở thửa đất số 172, việc tu sửa nhà cửa trên đất là do ông V1 thực hiện, bà không có đóng góp gì. Bà Q cũng không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh từ khi chấm dứt quan hệ hôn nhân thực tế với ông V1 thì bà vẫn liên lạc với ông V1 về các vấn đề có liên quan đến thửa đất số 172. Chỉ sau khi ông V1 chết và có tranh chấp giữa bà H và bà S thì bà Q mới có yêu cầu. Đặc biệt, bà Q cũng thừa nhận thời điểm năm 1994, bà có biết việc ông A xây dựng ki ốt để sinh sống và buôn bán thóc gạo tại thửa đất số 172 nhưng không có ý kiến phản đối gì. Chính anh L là con của ông V1 và bà Q qua hòa giải tại UBND xã Y cũng cho rằng đất là của ông nội mua nên khi xét xử sơ thẩm, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Q về việc công nhận ½ thửa đất 1585 (tức là thửa đất số 172) thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Q là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, không có cơ sở để chấp nhận nội dung kháng cáo này của bà Q và anh L.
[4.3] Về nội dung kháng cáo không xem xét tính công sức tôn tạo, trông nom thửa đất cho bà S (nguyên đơn): Như đã phân tích ở trên, do ông A và bà S đã sinh sống trên thửa đất số 172 một thời gian dài, cấp sơ thẩm trích công sức là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo này của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[5] Xét nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Hội đồng xét xử xét thấy:
[5.1] Về nội dung kháng nghị giải quyết vụ án không đúng quy định: Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Dương Hồng L (con chung ông V1 với bà Q), anh Dương Trường T1 và chị Dương Thị Hồng N (con chung ông V1 với bà H) đều đồng ý với yêu cầu độc lập của bà Q, yêu cầu phản tố của bà H và đều yêu cầu được hưởng một phần di sản thừa kế của ông V1 để lại. Vì vậy, đây đều là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có cùng yêu cầu phản tố với bị đơn, tham gia tố tụng với bên bị đơn có yêu cầu phản tố hoặc có cùng yêu cầu độc lập với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tham gia tố tụng với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc chỉ có quyền lợi thì có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố tụng với bên bị đơn hoặc chỉ có nghĩa vụ thì có quyền, nghĩa vụ của bị đơn quy định tại Điều 72 của Bộ luật này. Vì vậy, tuy cấp sơ thẩm có thiếu sót là không làm thủ tục yêu cầu độc lập nhưng khi xét xử vẫn xem xét các yêu cầu của anh L, anh T1 và chị N để phân chia di sản thừa kế là đã đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Đồng thời, sau khi xét xử sơ thẩm, anh L kháng cáo vẫn yêu cầu chia di sản thừa kế của ông V1; tại phiên tòa phúc thẩm anh vẫn giữ nguyên yêu cầu chia di sản thừa kế còn người đại diện theo pháp luật cho cháu N là bà H cũng có yêu cầu chia di sản thừa kế của ông V1 nên khi xét xử sơ thẩm, cấp sơ thẩm chia di sản thừa kế của ông V1 theo yêu cầu của anh L, anh T1 và chị N là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự cũng như đảm bảo không kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
Tuy nhiên, khi xem xét phân chia di sản thừa kế, cấp sơ thẩm chỉ trích công sức cho ông A (người thừa kế bà S, cháu N1) mà không trích công sức quản lý di sản cho bà S là không phù hợp, bởi lẽ bà S đã ở trên đất từ năm 2011 cho đến thời điểm xét xử sơ thẩm cũng đã hơn 10 năm là một thời gian dài. Do đó, cấp phúc thẩm chấp nhận nội dung kháng nghị này của Viện kiểm sát, sửa Bản án sơ thẩm về vấn đề này, xem xét trích công sức cho bà S theo quy định của pháp luật. Đồng thời, do bà S và ông A là vợ chồng, cùng chung sống trên đất, sau khi ông A chết thì bà S vẫn tiếp tục quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất nên cần trích công sức chung cho bà S và ông A. Mức trích công sức mà Bản án sơ thẩm đã đưa ra 1.500.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với giá trị di sản thừa kế và quá trình đóng góp công sức của những người quản lý di sản thừa kế nên cần trích công sức chung cho bà S và ông A (người thừa kế là bà S, cháu N1) số tiền là 1.500.000.000 đồng.
[5.2] Về nội dung kháng nghị không đưa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là cháu Dương Gia N1 vào tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử xét thấy: Như đã phân tích ở trên, tuy tại phần đầu của Bản án sơ thẩm không đưa cháu N1 vào danh sách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng khi phân chia di sản thừa kế tại phần quyết định, cấp sơ thẩm vẫn trích công sức cho cháu N1 bằng tiền, quyền lợi của cháu N1 đã được đảm bảo, việc thiếu sót của cấp sơ thẩm tại phần đầu Bản án không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ hợp pháp của cháu N1 nên không cần thiết phải hủy bản án như tại kháng nghị của Viện kiểm sát nhưng cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[5.3] Về nội dung kháng nghị nhận định và quyết định không phù hợp, Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại phần nhận định của Bản án sơ thẩm (trang 12) xác định di sản thừa kế của ông V1 để lại gồm quyền sử dụng đất 206,4m² trị giá 8.256.000.000 đồng; 01 nhà ràn phía sau trị giá 3.000.000 đồng; ½ ngôi nhà cấp 4 (do ông V1 mua của ông Dương Văn L3) là 1.500.000 đồng và 1/2 trị giá ngôi nhà cấp 4 lợp proximang là 7.210.500 đồng; Tổng giá trị di sản là 8.267.710.500 đồng. Và Bản án sơ thẩm cũng đã nhận định tại trang 13 là: “Giao cho anh Dương Trường T1 và cháu Dương Thị Hồng N được sở hữu một ngôi nhà cấp 4 (do ông V1 mua của ông Dương Văn L3) trị giá 3.000.000 đồng và một ngôi nhà cấp 4 phía trước lợp Proximang tường xây táp lô, trị giá 17.421.000 đồng”. Tuy nhiên tại phần quyết định của Bản ản án sơ thẩm, cấp sơ thẩm không giao giá trị của ½ ngôi nhà cấp 4 (do ông V1 mua của ông Dương Văn L3) là 1.500.000 đồng và 1/2 trị giá ngôi nhà cấp 4 lợp proximang là 7.210.500 đồng cho anh T1, chị N là thiếu sót, cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, sửa Bản án sơ thẩm về nội dung này. Nhưng do nhà ràn và ngôi nhà cấp 4 bà H đã phá bỏ trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm và tại cấp sơ thẩm anh T1, chị N cũng chưa có yêu cầu bà H trả lại giá trị phần di sản thừa kế nên cần dành quyền khởi kiện cho anh T1, chị N bằng một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Bản án sơ thẩm nhận định người phải chịu trách nhiệm chi phí xem xét thẩm định tại chỗ không phù hợp với phần chấp nhận. Tuy nhiên, tại phần quyết định của bản án đã phân chia trách nhiệm chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản cho bà S, anh L, anh T1, chị N (trong đó anh L, anh T1, chị N là những người được hưởng di sản thừa kế) là phù hợp với quy định tại Điều 157, 158, 165, 166 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm về phần nhận định.
[5.4]. Về nội dung kháng nghị giải quyết án phí dân sự sơ thẩm không đúng quy định:
Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà S nhưng lại trả tạm ứng án phí cho bà S là không đúng quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, mục a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326, trong đó giá trị tài sản mà bà S yêu cầu phân chia là (206,4m² x 40.000.000đ/m²) = 8.256.000.000đ; phần tài sản mà bà S yêu cầu được hưởng cho bà S và cháu Nghĩa L5 (8.332.000.000 : 4) = 2.064.000.000₫ nên bà S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền không được chấp nhận là 1.032.000.000 đồng. Đồng thời, Bản án sơ thẩm buộc các đồng thừa kế của ông A trích công sức quản lý di sản cho bà H, ông A (bà S, cháu N1) nhưng không buộc những người thừa kế của ông A phải chịu án phí đối với phần trích công sức là không đúng quy định tại điểm b khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 nên cần chấp nhận nội dung kháng nghị này của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An. Tuy nhiên, do bà H, anh T1, cháu N là hộ nghèo, sau khi nộp đơn kháng cáo, bà H đã giao nộp Giấy chứng nhận hộ nghèo, cận nghèo các năm 2022, 2023, 2024 nên cần phải miễn án phí dân sự cho bà H, anh T1, cháu N. Riêng anh Dương Hồng L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 1.000.000.000 đồng trích công sức cho bà Nguyễn Thị S và cháu Dương Gia N1 theo quy định của pháp luật.
[6]. Về án phí phúc thẩm: kháng cáo của bà Nguyễn Thị S, bà Dương Thị L1, Dương Thị Y được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Kháng cáo của bà Đào Thị H và bà Hồ Thị Q, anh Dương Hồng L không được chấp nhận nhưng bà Q là người cao tuổi, bà H là hộ nghèo nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm; anh L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An kháng nghị thuộc trường hợp không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 29, điểm d khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị S, bà Dương Thị L1 và bà Dương Thị Y.
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Đào Thị H, bà Hồ Thị Q và anh Dương Hồng L.
- Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Căn cứ vào Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 và Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986; Căn cứ vào các Điều 623, 625, 649, 650, 651, khoản 2 Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 74, khoản 2 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27, 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S về việc yêu cầu chia di sản thừa kế tài sản quyền sử dụng đất 206,4m² tại thửa đất số 172, tờ bản đồ số 10, địa chỉ xóm Y (nay xóm H), xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An mang tên ông Dương Hồng V1.
- Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đào Thị H về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Dương Hồng V1 do người khởi kiện không có quyền khởi kiện. Trả lại đơn phản tố cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho bị đơn (nếu có yêu cầu).
- - Đình chỉ một phần yêu cầu độc của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Hồ Thị Q về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Dương Hồng V1 do người khởi kiện không có quyền khởi kiện. Không chấp nhận một phần yêu cầu độc của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Hồ Thị Q về việc tuyên ½ thửa đất 1585 (tức là thửa đất số 172) là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Hồ Thị Q.
- Chấp nhận một phần yêu cầu chia di sản thừa kế của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Dương Hồng L, anh Dương Trường T1 và cháu Dương Thị Hồng N.
Do ông Dương Hồng V1 (Dương Văn V) chết không để lại di chúc nên khối di sản của ông Dương Hồng V1 để lại sau khi trích công sức đóng góp cho người quản lý di sản và được chia thừa kế theo luật cho các đồng thừa kế thuộc hàng thừa nhất là các con đẻ của ông Dương Hồng V1 gồm Dương Hồng L, Dương Trường T1 và Dương Thị Hồng N.
Buộc bà Đào Thị H và bà Nguyễn Thị S phải giao lại diện tích đất 206,4m² và tài sản gắn liền với tại thửa đất số 172, tờ bản đồ số 10 thuộc xóm Y (nay xóm H), xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An cho các đồng thừa kế là Dương Hồng L, Dương Trường T1 và Dương Thị Hồng N để chia di sản thừa kế.
Di sản của ông Dương Hồng V1 để lại gồm: Quyền sử dụng đất 206,4m² gắn liền với nhà cấp 4 trị giá 8.259.000.000 đồng và 1/2 trị giá nhà cấp 4 và nhà ràn là 8.710.500đ (đây là các tài sản do ông V1 và bà H tạo lập trong thời gian chung sống với nhau nên mỗi người được chia 1/2 trị giá). Tổng trị giá 8.267.710.500 đồng.
Số tiền phải trích công sức cho bà H từ khối di sản thừa kế của ông Dương Hồng V1 là 1.500.000.000 đồng và cho bà S, ông A (do ông A đã chết nên bà S và cháu N1 được hưởng) là 1.500.000.000 đồng và đền bù tài sản trị giá nhà cho bà S (vợ ông A) và cháu Dương Gia Nghĩa L5 10.000.000 đồng; tổng cộng 1.510.000.000 đồng.
Tổng trị giá phần di sản của ông V1 còn lại là 5.267.710.500 đồng được chia cho ba suất thừa kế, mỗi suất thừa kế gồm anh L, anh T1 và cháu N được hưởng là 1.755.903.000 đồng.
Như vậy:
Kỷ phần chia di sản thừa kế của ông Dương Hồng V1 (Dương Văn V) được phân chia như sau:
* Về chia hiện vật:
- Chia cho anh Dương Trường T1 và cháu Dương Thị Hồng N được quyền sử dụng 137,4m² đất, trị giá 5.496.000.000 đồng (Năm tỷ, bốn trăm chín mươi sáu triệu đồng) tại thửa đất số 172, tờ bản đồ số 10 thuộc xóm Y (nay xóm H), xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An có tứ cận: phía Tây giáp phần đất của ông Nguyễn Văn X (Thửa 151 và 161) có chiều dài gồm các đoạn 1,33m; 0,29m; 16,17m và 0,88 m; phía Nam giáp Quốc lộ G có chiều dài 5,80m; phía Đông giáp phần đất chia cho anh Dương Hồng L có chiều dài 18,83m; phía Bắc giáp đất ông Dương Văn D (thửa số 541) có chiều dài gồm các đoạn 7,52m và 0,66 m.
- Chia cho anh Dương Hồng L được quyền sử dụng diện tích đất 69m², trị giá 2.760.000.000 đồng (Hai tỷ, bảy trăm sáu mươi triệu đồng) tại thửa đất số 172, tờ bản đồ số 10 thuộc xóm Y (nay xóm H), xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An có tứ cận: phía Nam giáp Quốc lộ G, chiều dài 4,00 m; phía Đông giáp đất hộ ông Kiều Kim Đ có chiều dài các đoạn 10,58m và 3,08m; phía Tây giáp phần đất chia cho anh Dương Trường T1 và cháu Dương Thị Hồng N có chiều dài: 18,83m; phía Bắc giáp đất hộ ông Nguyễn Trọng H4 (thửa 162) có chiều dài gồm các đoạn: 3,30m; 1,92m và 2,46m.
* Về tài sản gắn liền với đất: Giao cho anh Dương Hồng L sở hữu 01 nhà ràn phía sau trị giá 3.000.000₫ và 01 ngôi nhà cấp 4, mái ngói nền xi măng trị giá 10.000.000đ (nhà của ông Dương Văn A xây dựng năm 1994). Giao cho anh Dương Trường T1 và cháu Dương Thị Hồng N giá trị của 1/2 ngôi nhà cấp 4 (do ông V mua của ông Dương Văn L3) là 1.500.000 đồng và giá trị của 1/2 ngôi nhà cấp 4 lợp proximang là 7.210.500 đồng. Anh T1, chị N có quyền khởi kiện yêu cầu bà Đào Thị H trả lại giá trị của của 1/2 ngôi nhà cấp 4 (do ông V mua của ông Dương Văn L3) là 1.500.000 đồng và giá trị của 1/2 ngôi nhà cấp 4 lợp proximang là 7.210.500 đồng bằng một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
(Có sơ đồ phân chia nhà đất kèm theo).
Anh Dương Hồng L, anh Dương Trường T1 và cháu Dương Thị Hồng N được quyền đến cơ quan quản lý đất đai đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Anh Dương Hồng L phải trích cho bà Nguyễn Thị S và cháu Dương Gia N1 số tiền 1.010.000.000 đồng (một tỷ không trăm mười triệu đồng) trong đó 1.000.000.000 đồng là tiền công sức tôn tạo cho ông A, bà S và 10.000.000 đồng trích giá trị tài sản. Chia kỳ phần cháu Dương Gia N1 hưởng 505.000.000 đồng (năm trăm linh năm triệu đồng), bà Nguyễn Thị S hưởng 505.000.000 đồng (năm trăm linh năm triệu đồng). Tuy nhiên do cháu N1 còn nhỏ nên giao cho bà Nguyễn Thị S quản lý số tiền trên. Anh Dương Hồng L phải trích cho bà Đào Thị H số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn đồng).
Anh Dương Trường T1 và cháu Dương Thị Hồng N phải trích công sức cho bà Đào Thị H số tiền 1.500.000.000đ (Một tỷ, năm trăm ngàn đồng) và phải trích công sức tôn tạo cho ông A, bà S (người thừa kế của ông A là bà Nguyễn Thị S và cháu Dương Gia N1) số tiền 500.000.000₫ (năm trăm triệu đồng). Chia kỳ phần cháu Dương Gia N1 hưởng 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng), bà Nguyễn Thị S hưởng 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng). Tuy nhiên do cháu N1 còn nhỏ nên giao cho bà Nguyễn Thị S quản lý số tiền trên.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hồ Thị Q, bà Đào Thị H, anh Dương Trường T1, cháu Dương Thị Hồng N và cháu Dương Gia N1 được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Dương Hồng L phải nộp 64.800.000 đồng án phí chia tài sản và 42.000.000 đồng án phí trích công sức. Tổng cộng: 106.800.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị S phải chịu 42.960.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 7.950.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà S đã nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Đô Lương theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002540 ngày 19/5/2022. Bà S còn phải nộp tiếp 35.010.000 đồng.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: yêu cầu kháng cáo của bà S, bà L1, bà Y được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; bà Q là người cao tuổi, bà H là hộ nghèo nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm; anh L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí anh L đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0009359 ngày 17/01/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Đô Lương. Bà Nguyễn Thị S được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tiền số 0009364 ngày 23/01/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Đô Lương.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
7. Những quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Nga |
Bản án số 116/2024/DS-PT ngày 21/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về thừa kế tài sản, chia tài sản chung vợ chồng.
- Số bản án: 116/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản, Chia tài sản chung vợ chồng.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản giữa bà S và bà H
