Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÂM

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2024/HS-ST

Ngày 26 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM - TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Văn Mười.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thắng và ông Nguyễn Văn Huyền.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Tiến Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2024/TLST - HS ngày 04/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2024/QĐXXST - HS ngày 13/9/2024 đối với các bị cáo:

1. Sái Văn T, sinh năm 1988.

Nơi sinh, cư trú: Thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sái Văn D và bà Nguyễn Thị D1; vợ: Lê Thị N (đã ly hôn); con: Có 03 con, nhỏ nhất sinh năm 2014, lớn nhất sinh năm 2008. Tiền án, tiền sự: Chưa có. Nhân thân: Ngày 30/12/2004, bị UBND huyện V ra quyết định đưa vào Trường G1 theo Quyết định số 744/QĐ-UB ngày 30/12/2004 thời hạn chấp hành 24 tháng, về hành vi Chiếm giữa tài sản trái phép, đến ngày 01/8/2006, chấp hành xong. T bị tạm giữ từ ngày 26/12/2023, tạm giam ngày 04/01/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn G, sinh năm 1988.

Nơi sinh, cư trú: Thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Đào Thị T1 (đã chết); vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có. Nhân thân: Ngày 23/10/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tuyên phạt 08 năm tù về tội ‘Cướp tài sản’, chấp hành xong án phạt tù ngày 29/5/2015 (đã nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự ngày 29/6/2009 (đã được xóa án tích); Ngày 30/01/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên tuyên phạt 03 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 18/9/2017, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 29/8/2018 (đã được xóa án tích). G bị tạm giữ từ ngày 26/12/2023, tạm giam ngày 04/01/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Hoàng Xuân D2, sinh năm 1979.

Nơi sinh, cư trú: Tổ A, phường T, quận L, Thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Ngọc D3 và bà Vũ Thị D4; vợ: Lưu Thị T2 (đã ly hôn) con: Có 02 con, con nhỏ sinh năm 2006, con lớn sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Chưa có. Nhân thân: Ngày 02/11/2006, bị Công an T5, huyện G, TP Hà Nội ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 198586 về hành vi “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”, ngày 26/12/2006 đã chấp hành xong. Ngày 26/02/2007, bị Công an phường T, quận L, Thành phố Hà Nội ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 130926 về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, ngày 13/4/2007 đã chấp hành xong. D2 bị tạm giữ từ ngày 26/12/2023, tạm giam ngày 04/01/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Đặng Thu H, sinh năm 1991.

Nơi sinh, cư trú: Thôn T, xã V, huyện G, Thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn B và bà Nguyễn Thị B1 (đã chết); chồng: Nguyễn Văn Đ; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Chưa có. H bị tạm giữ từ ngày 26/12/2023, tạm giam ngày 04/01/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

5. Đặng Ngọc L, sinh năm 1986.

Nơi sinh, cư trú: Tổ A, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Giang. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Duy T3 và bà Bùi Thị L1; chồng: không có, (đã ly hôn năm 2015); con: Có 02 con, con lớn sinh năm: 2008, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Chưa có. L bị tạm giữ từ ngày 26/12/2023, tạm giam ngày 04/01/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Lê Văn P, sinh năm: 1981, vắng mặt.
  • Địa chỉ: Thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Thu H, sinh năm 1991 ở thôn T, xã V, huyện G, thành phố Hà Nội, thuê trọ tại thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên cùng với Hoàng Xuân D2, sinh năm 1979 ở tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội; Sái Văn T, sinh năm 1988 ở thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Đặng Ngọc L, sinh năm 1986 ở tổ A, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Giang và Nguyễn Văn G, sinh năm 1988 ở thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, đều là đối tượng nghiện các chất ma tuý và có quan hệ là bạn bè quen biết xã hội với nhau.

Khoảng 19 giờ 00 ngày 25/12/2023, G và T đến phòng trọ của H chơi thì gặp H và D2. Tại đây, T bảo G góp tiền để mua ma túy đá về sử dụng thì G đồng ý và nói lấy số tiền 200.000 đồng mà trước đó G đưa cho T để đi mua ma túy thì T đồng ý. T cũng góp thêm 200.000 đồng được tổng số tiền 400.000 đồng. Sau đó, T đi bộ ra ngã tư N gặp một người nam giới lạ mặt (không rõ tên tuổi địa chỉ) hỏi mua 01 gói ma túy đá với giá 400.000 đồng thì người đàn ông đồng ý đưa cho T 01 túi nilon màu trắng, có mép bấm màu xanh, kích thước (3x3) cm, bên trong chứa ma túy đá để cùng về sử dụng. Sau khi mua được ma tuý, T đi về phòng trọ của H. Lúc này G, D2 đang ngồi dưới chiếu được trải sẵn trên nền phòng thì T bỏ túi ma túy ra chiếu. Lúc này, G hỏi Dương B2 và cóng đâu thì D2 bảo G tìm ở trong phòng (vì trước đó D2 làm và để sẵn ở trong phòng). G thấy ở góc phòng trọ của H có 01 bình thủy tinh phần đầu gắn 01 ống nhựa và 01 ống cóng, phần đáy bình thủy tinh gắn với hộp bánh bằng kim loại nhãn hiệu Danisa Giang lấy rồi bỏ ra đặt ở giữa chiếu. Tiếp đó, T lấy bình gas mini có gắn đầu khò có sẵn ở phòng trọ ra khò làm sạch chiếc coóng bằng thủy tinh, khi làm sạch ống coóng xong thì L đến cổng khu trọ, D2 ra mở cổng cho L vào phòng trọ của H và ngồi xuống chiếu cùng mọi người sử dụng ma túy. Lúc này, 05 người ngồi quây thành vòng tròn lần lượt theo chiều kim đồng hồ là T, G, L, H, D2 rồi G lấy ống nhựa màu xanh một đầu được cắt vát nhọn xúc ma túy đá trong túi nilon T mới mua cho vào coóng rồi sử dụng bật lửa gas màu đỏ của D2 bỏ ra bật lửa hơ bên ngoài coóng làm cho ma túy tan ra rồi đưa ống hút cho T hút, T hút một hơi ma túy xong truyền tay ống hút cho G để G tự hút một hơi ma túy, tiếp đó G đưa cho D2; Dương hút một hơi ma túy xong đưa cho Liên hút; L hút xong đưa cho H, H sử dụng xong đưa cho T; Sau đó, tất cả tiếp tục cùng nhau tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma tuý lần thứ 2.

Sau khi T, G, L, H, D2 sử dụng ma túy xong thì Lê Văn P, sinh năm 1981 ở thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên đến phòng trọ của H chơi. Khi P đến, T ra mở cửa cho P vào phòng, H đưa bình và coóng ma túy cho P sử dụng ma tuý, P cầm ống hút còn Dương cầm bật lửa để hơ nóng coóng đựng ma túy để cho P hít một hơi ma túy xong thì để lại dưới chiếu. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, lực lượng Công an tiến hành kiểm tra phát hiện việc các đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý. Tổ công tác đã lập biên bản vụ việc, thu giữ vật chứng, gồm:

T4 tại chiếu nhựa được trải ở nền phòng trọ vị trí các đối tượng ngồi ngay sát giường trong phòng trọ các đồ vật gồm:

01 chai thủy tinh hình chữ nhật, màu xanh - đen, một mặt đề chữ “Bleu De Chanel”, kích thước (8,5x8x3) cm; mặt trên của chai thủy tinh có gắn 02 ống hút, 01 ống hút bằng nhựa màu trắng - xanh - tím - vàng, có chiều dài 65cm; 01 ống hút bằng nhựa màu vàng, bên ngoài có quấn băng dính màu đen có chiều dài 8,5cm, một đầu ống hút này gắn 01 ống thủy tinh dạng chữ “L” có chiều dài 10cm, đầu ống còn lại có dạng hình tròn đường kính 01cm, trên hình tròn này có một lỗ thủng đường kính 0,5cm (hay thường gọi là coóng), mặt đáy của hình tròn có bám dính chất màu trắng, màu đen; phần đáy chai thủy tinh đề chữ “Bleu De Chanel” gắn trên 01 hộp bánh bằng kim loại, nhãn hiệu “Danisa” đường kính 14cm, cao 06cm; 01 ống nhựa màu xanh chiều dài 11cm, một đầu cắt vát nhọn; 01 túi nilon màu trắng, có mép bấm màu xanh, kích thước (3x3) cm, bên trong bám dính chất kết tinh màu trắng, được niêm phong ký hiệu M1.

01 bật lửa ga màu đỏ, phần đầu gắn 01 ống nhựa và kim loại có chiều dài 07cm; 01 chiếc chiếu nhựa màu xanh-đỏ-vàng.

Ngày 25/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Thu H ở thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, kết quả khám xét, thu giữ các đồ vật, tài liệu sau:

T4 tại thành tường phía đông dưới mái bờ lô xi măng: 01 túi nilon màu trắng, được hàn kín, kích thước (04 x 03)cm, bên trong túi nilon chứa chất kết tinh màu trắng, được niêm phong trong phong bì thư dán kín ký hiệu “M2”.

T4 tại thành tường phía nam tiếp giáp gần cửa ra vào phòng: 01 bình gas mini, màu trắng - đỏ; 01 đầu khò bình gas, màu trắng - đen và 01 chiếc kéo chuôi bằng nhựa màu xanh.

Bản thông báo Kết luận giám định sơ bộ số 113 ngày 26/12/2023 và Bản Kết luận giám định số 113/KL-KTHS(MT) ngày 29/12/2023 của phòng K Công an tỉnh H, kết luận:

Chất dạng tinh thể màu trắng bám dính trong 01 coóng thủy tinh và 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh, trong niêm phong ghi ký hiệu “M1”, không xác định được khối lượng là ma túy loại Methamphetamine.

Chất dạng tinh thể màu trắng trong túi nilon màu trắng có đường viền màu xanh ở miệng túi được niêm phong ghi ký hiệu “M1”, không xác định được khối lượng là ma túy, loại Methamphetamine.

Chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu “M2”, có khối lượng là: 0,287gam (không phẩy hai trăm tám mươi bảy gam), là ma túy loại Methamphetamine.

H1 lại các mẫu vật sau giám định trong niêm phong ghi số 113/KL-KTHS(MT), bên trong có: 01 coong thuỷ tinh và 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh, trong niêm phong ghi ký hiệu M1; 0,275gam ma tuý, loại Methamphetamine trong niêm phong ghi ký hiệu M2; 02 vỏ túi nilong và 02 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định.

Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm nước tiểu tại Trung tâm y tế huyện V đối với Sái Văn T, Nguyễn Văn G, Đặng Thu H, Đặng Ngọc L, Hoàng Xuân D2, Lê Văn P. Kết quả xác định: 06 người đều dương tính với ma túy, loại Amphetamine, M. Ngày 04/01/2024, V Bộ C ra kết luận giám định số: 9621/KL-KTHS kết luận đều tìm thấy Methamphetamine trong các mẫu nước tiểu ghi tên “H”, “D2”, “T”, “G”, “L”, “P” gửi giám định.

Đối với 01 túi nilon màu trắng, được hàn kín, kích thước (04 x 03)cm, bên trong túi nilon chứa chất kết tinh màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,287gam, được niêm phong trong phong bì thư dán kín ký hiệu “M2”, thu tại thành tường phía đông dưới mái bờ lô xi măng (phía ngoài phòng trọ của H). Quá trình điều tra chưa làm rõ được nguồn gốc túi ma túy niêm phong ghi ký hiệu “M2” là của ai. Do vậy, ngày 19 tháng 7 năm 2024, Cơ quan điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định tách vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” số 1243 để tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ đối tượng thực hiện hành vi phạm tội thì sẽ xử lý sau. Đồng thời, tiến hành mở niêm phong mẫu vật để tách vật chứng, niêm phong lại thành hai mẫu niêm phong cụ thể như sau:

01 coóng thủy tinh và 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh và 1 túi nilon màu trắng, có mép bấm màu xanh, kích thước (3x3) cm, bên trong bám dính chất kết tinh màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu là S1. Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã nhập kho vật chứng tại Công an huyện V để chờ xử lý trong vụ án.

01 túi nilon màu trắng, được hàn kín, kích thước (04 x 03)cm, bên trong túi nilon có khối lượng là: 0,287gam ma túy loại Methamphetamin được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu là S2, để tiếp tục điều tra làm rõ nguồn gốc Cơ quan điều tra Công an huyện V đã nhập kho vật chứng tại Công an huyện V để chờ xử lý sau.

Đối với 01 bật lửa ga màu đỏ, phần đầu gắn 01 ống nhựa và kim loại có chiều dài 07cm; 01 chiếc chiếu nhựa màu xanh-đỏ-vàng; 01 bình gas mini, màu trắng - đỏ; 01 đầu khò bình gas, màu trắng - đen và 01 chiếc kéo chuôi bằng nhựa màu xanh là các dụng cụ để sử dụng ma tuý nên Cơ quan điều tra Công an huyện V cũng đã nhập kho vật chứng tại Công an huyện V để chờ xử lý theo quy định trong vụ án này.

Đối với 01 điện thoại di động SamSung Galaxy S9 màu đen số IMEI 353525090862342, lắp sim số 0342.719.181 là chiếc điện thoại T sử dụng để gọi P đến sử dụng ma tuý. Cơ quan điều tra Công an huyện V đã nhập kho vật chứng tại Công an huyện V để chờ xử lý theo quy định.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu sơn nâu, biển kiểm soát 23H1-3683, số máy 0005634, số khung 006010 thu giữ của Đặng Ngọc L. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản của ông Đặng Duy T3, sinh năm 1965 ở Tổ A, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Giang (là bố đẻ của Đặng Ngọc L), ông T3 không biết việc L sử dụng chiếc xe mô tô trên liên quan đến việc vi phạm pháp luật nên ngày 22/4/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện V đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông Đặng Duy T3, ông T3 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.

Đối với người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ mà T khai bán ma túy cho T, quá trình điều tra chưa làm rõ được nhân thân lai lịch nên cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ giải quyết sau.

Đối với Lê Văn P chỉ tham gia sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng, không tham gia Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 19/4/2024, Công an huyện V ra Quyết định định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Văn P về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Quá trình điều tra, Sái Văn T, Nguyễn Văn G, Đặng Thu H, Đặng Ngọc L, Hoàng Xuân D2 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 109/CT-VKS-VL ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Sái Văn T, Nguyễn Văn G, Đặng Thu H, Đặng Ngọc L và Hoàng Xuân D2 đều về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa:

Các bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Các bị cáo Sái Văn T, Nguyễn Văn G, Đặng Thu H, Đặng Ngọc L và Hoàng Xuân D2 đều phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Sái Văn T, Nguyễn Văn G, Đặng Thu H, Đặng Ngọc L và Hoàng Xuân D2.

Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Sái Văn T, Đặng Ngọc L.

Xử phạt: Sái Văn T từ 08 năm 09 tháng đến 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2023.

Xử phạt: Nguyễn Văn G từ 08 năm 06 tháng đến 08 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2023.

Xử phạt: Hoàng Xuân D2 từ 08 năm 06 tháng đến 08 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2023.

Xử phạt: Đặng Thu H từ 08 năm 03 tháng đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2023.

Xử phạt: Đặng Ngọc Liên từ 08 năm đến 08 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo

Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung phát mại lấy tiền sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động SamSung Galaxy S9 màu đen số IMEI 353525090862342.

Tịch thu cho tiêu hủy: 01 chai thủy tinh hình chữ nhật, màu xanh - đen, một mặt đề chữ “Bleu De Chanel”, kích thước (8,5x8x3) cm; mặt trên của chai thủy tinh có gắn 02 ống hút ( 01 ống hút bằng nhựa màu trắng - xanh - tím - vàng, có chiều dài 65cm; 01 ống hút bằng nhựa màu vàng, bên ngoài có quấn băng dính màu đen có chiều dài 8,5cm, mặt đáy của hình tròn có bám dính chất màu trắng, màu đen; phần đáy chai thủy tinh đề chữ “Bleu De Chanel” gắn trên 01 hộp bánh bằng kim loại, nhãn hiệu “Danisa” đường kính 14cm, cao 06cm; 01 coóng thủy tinh và 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh và 1 túi nilon màu trắng, có mép bấm màu xanh, kích thước (3x3) cm, bên trong bám dính chất kết tinh màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu là S1; 01 bật lửa ga màu đỏ, phần đầu gắn 01 ống nhựa và kim loại có chiều dài 07cm; 01 chiếc chiếu nhựa màu xanh-đỏ-vàng; 01 bình gas mini, màu trắng - đỏ; 01 đầu khò bình gas, màu trắng - đen và 01 chiếc kéo chuôi bằng nhựa màu xanh; 01 thẻ sim số 0342.719.181.

Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện V và điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án: Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; biên bản vụ việc, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, kết luận giám định cùng các vật chứng mà cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ. Như vậy có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 22 giờ ngày 25/12/2023, tại phòng trọ của Đặng Thu H tại thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Sái Văn T, Nguyễn Văn G, Đặng Thu H, Đặng Ngọc L, Hoàng Xuân D2 đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho nhau sử dụng và tổ chức cho Lê Văn P sử dụng thì bị Công an huyện V kiểm tra, phát hiện bắt giữ.

Hành vi của các bị cáo Sái Văn T, Nguyễn Văn G, Đặng Thu H, Đặng Ngọc L và Hoàng Xuân D2 đều phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Tình hình tệ nạn ma túy đang gây nhức nhối, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội, gây bất bình trong cộng đồng dân cư. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do không làm chủ bản thân nên đã tổ chức để bản thân các bị cáo và người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Việc sử dụng ma tuý ảnh hưởng đến sức khoẻ và phá vỡ các giá trị đạo đức tốt đẹp của con người. Tệ nạn ma tuý là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, một số tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng có nguồn gốc phát sinh từ tệ nạn ma túy. Với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải có mức hình phạt tương xứng, tiếp tục bắt các bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian thì mới đủ điều kiện cải tạo các bị cáo và phòng ngừa các hành vi tương tự xảy ra.

Trong vụ án, có đồng phạm tham gia thực hiện tội phạm, nhưng tính chất đồng phạm giản đơn, vai trò các bị cáo trong vụ án như sau.

Sái Văn T giữ vai trò đầu, là người khởi xướng, đề xuất góp tiền mua ma túy về sử dụng, khi G đồng ý, T góp 200.000 đồng và là người trực tiếp đi mua ma túy, chuẩn bị công cụ sử dụng ma túy và là người gọi điện thoại rủ P đến sử dụng ma túy cùng. Bị cáo có nhân thân xấu, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng về hành vi chiếm giữ tài sản trái phép nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy Hình phạt đối với T cao hơn các bị cáo khác.

Các bị cáo Nguyễn Văn G, Hoàng Xuân D2, Đặng Thu H, Đặng Ngọc L giữ vai trò tiếp theo, là người tham gia tích cực vào việc chuẩn bị các công cụ để sử dụng ma túy và tham gia chế biến ma túy, G là người góp tiền mua ma túy cùng T, H cung cấp địa điểm để các bị cáo cùng nhau sử dụng ma túy. Bị cáo G và D2 đều có nhân thân xấu, G đã bị kết án về tội Cướp tài sản và Mua bán trái phép chất ma túy, D2 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Công nhiên chiếm đoạt tài sản và Gây rối trật tự công cộng nhưng các bị cáo không sửa chữa, lại tham gia tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thể hiện sự coi thường pháp luật do vậy hình phạt đối với G và D2 sẽ thấp hơn T và cao hơn các bị cáo còn lại.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xét đến quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với cả năm bị cáo; Bị cáo L có bố đẻ được Chủ tịch nước tặng thưởng huân chương kháng chiến, bị cáo T gia đình có đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn xin giảm nhẹ hình phạt được chính quyền địa phương xác nhận, nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T và L, Hội đồng xét xử có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Đối với Lê Văn P chỉ tham gia sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng, không tham gia Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện V ra Quyết định định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Văn P về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” nên Hội đồng xét xử không xử lý đối với hành vi của Lê Văn P.

[3]. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định các bị cáo đều làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[4]. Về vật chứng và biện pháp tư pháp:

Đối với 01 chai thủy tinh hình chữ nhật, màu xanh - đen, một mặt đề chữ “Bleu De Chanel”, kích thước (8,5x8x3) cm; mặt trên của chai thủy tinh có gắn 02 ống hút ( 01 ống hút bằng nhựa màu trắng - xanh - tím - vàng, có chiều dài 65cm; 01 ống hút bằng nhựa màu vàng, bên ngoài có quấn băng dính màu đen có chiều dài 8,5cm, mặt đáy của hình tròn có bám dính chất màu trắng, màu đen; phần đáy chai thủy tinh đề chữ “Bleu De Chanel” gắn trên 01 hộp bánh bằng kim loại, nhãn hiệu “Danisa” đường kính 14cm, cao 06cm; 01 coóng thủy tinh và 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh và 1 túi nilon màu trắng, có mép bấm màu xanh, kích thước (3x3) cm, bên trong bám dính chất kết tinh màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu là S1; 01 bật lửa ga màu đỏ, phần đầu gắn 01 ống nhựa và kim loại có chiều dài 07cm; 01 chiếc chiếu nhựa màu xanh-đỏ-vàng; 01 bình gas mini, màu trắng - đỏ; 01 đầu khò bình gas, màu trắng - đen và 01 chiếc kéo chuôi bằng nhựa màu xanh đều là vật chứng của vụ án, các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động SamSung Galaxy S9 màu đen số IMEI 353525090862342, lắp sim số 0342.719.181 thu giữ của T, T sử dụng điện thoại này để gọi P đến sử dụng ma túy nên tịch thu phát mại lấy tiền sung ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại di động nêu trên. Đối với sim điện thoại lắp trong chiếc điện thoại di động này không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.

[5]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Các bị cáo Sái Văn T, Nguyễn Văn G, Đặng Thu H, Đặng Ngọc L và Hoàng Xuân D2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố: Các bị cáo Sái Văn T, Nguyễn Văn G, Đặng Thu H, Đặng Ngọc L và Hoàng Xuân D2 đều phạm tội: "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".

[2] Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Sái Văn T, Nguyễn Văn G, Đặng Thu H, Đặng Ngọc L và Hoàng Xuân D2.

Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Sái Văn T, Đặng Ngọc L.

[3]. Xử phạt:

Bị cáo Sái Văn T 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2023.

Bị cáo Nguyễn Văn G 08 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2023.

Bị cáo Hoàng Xuân D2 08 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2023.

Bị cáo Đặng Thu H 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2023.

Bị cáo Đặng Ngọc L 07 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2023.

[4]. Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung phát mại lấy tiền sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động SamSung Galaxy S9 màu đen số IMEI 353525090862342.

Tịch thu cho tiêu hủy: 01 chai thủy tinh hình chữ nhật, màu xanh - đen, một mặt đề chữ “Bleu De Chanel”, kích thước (8,5x8x3) cm; mặt trên của chai thủy tinh có gắn 02 ống hút ( 01 ống hút bằng nhựa màu trắng - xanh - tím - vàng, có chiều dài 65cm; 01 ống hút bằng nhựa màu vàng, bên ngoài có quấn băng dính màu đen có chiều dài 8,5cm, mặt đáy của hình tròn có bám dính chất màu trắng, màu đen; phần đáy chai thủy tinh đề chữ “Bleu De Chanel” gắn trên 01 hộp bánh bằng kim loại, nhãn hiệu “Danisa” đường kính 14cm, cao 06cm; 01 coóng thủy tinh và 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh và 1 túi nilon màu trắng, có mép bấm màu xanh, kích thước (3x3) cm, bên trong bám dính chất kết tinh màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu là S1; 01 bật lửa ga màu đỏ, phần đầu gắn 01 ống nhựa và kim loại có chiều dài 07cm; 01 chiếc chiếu nhựa màu xanh-đỏ-vàng; 01 bình gas mini, màu trắng - đỏ; 01 đầu khò bình gas, màu trắng - đen và 01 chiếc kéo chuôi bằng nhựa màu xanh; 01 thẻ sim số 0342.719.181.

[5]. Về án phí: Các bị cáo Sái Văn T, Nguyễn Văn G, Đặng Thu H, Đặng Ngọc L và Hoàng Xuân D2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm hình sự.

[6]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên yêu cầu xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân, Công an huyện Văn Lâm;
  • - Các bị cáo;
  • - Người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Văn Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 116/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Tùng và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger