TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 116/2024/HS-ST Ngày: 26/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Long
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Khắc Vũ.
- Ông Trần Hữu Linh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hằng Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea H'leo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'leo tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Văn Hai - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện Ea H'Leo mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2024/TLST - HS, ngày 13 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2024/QĐXXST- HS, ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Siu K, giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 12/11/2004, tại tỉnh Gia Lai; C2; Nơi cư trú: Thôn K, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Gia Rai; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Cha: A Drơng H, sinh năm 1977; Mẹ: Siu H' S, sinh năm 1984; Gia đình có 04 người con, bị cáo là con thứ 2;
Tiền án: 01 tiền án. Tại bản án số 17/2023/HSST ngày 20/6/2023 TAND huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai, xử phạt 11 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/02/2024.
Tiền sự: Ngày 21/11/2022, bị Công an huyện huyện C, tỉnh Gia Lai xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn chiếm đoạt tài sản.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 25/7/2024, chuyển tạm giam ngày 02/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện E. Có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Rmah H, giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 24/4/2005, tại tỉnh Gia Lai; C3; Nơi cư trú: Thôn K, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Gia Rai; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Cha: Rcom Yu (đã chết); Mẹ: Rmah H' HLi, sinh năm 1964; Gia đình có 06 người con, bị cáo là con thứ 5;
Nhân thân: Tại bản án số 17/2023/HSST ngày 20/6/2023 TAND huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai, xử phạt 11 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/02/2024; tiền sự: Không;
Tại Quyết định số 02/QĐ-TA ngày 28/8/2020, TAND huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, ngày 02/10/2021 chấp hành xong quyết định.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 25/7/2024, chuyển tạm giam ngày 02/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện E - Có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại:
- + Anh Hồ Quý D – sinh năm 1993;
- Địa chỉ: Thôn C, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk – có mặt.
- + Anh Phan Văn D1 – sinh năm 1989;
- Địa chỉ: Thôn G, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk – vắng mặt.
- + Ông Nguyễn Bá C – sinh năm 1980;
- Địa chỉ: Thôn I, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk – vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Hoàng Minh C1 – sinh năm 2000;
- Địa chỉ: Thôn F, xã E, huyện E' L, tỉnh Đắk Lắk – vắng mặt.
- + Ông Phan Văn H1 – sinh năm 1978;
- Địa chỉ: Thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk – vắng mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Siu K có bà H2 Len M Lô – trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ – có mặt.
Địa chỉ: C L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 05 giờ ngày 05/7/2024, Rmah Hinh rủ S đi trộm cắp tài sản thì Siu K đồng ý, cả hai đi bộ ngang qua quán C4 thuộc Thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk thì thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Jupiter, màu đen, biển số 47L9-2424 của anh Hồ Quý D, đang dựng ở phía trước quán, không có người trông coi. Lúc này, Siu K đứng bên ngoài cảnh giới còn Rmah Hinh tiếp cận chiếc xe mô tô, sử dụng 01 chiếc chìa khóa xe nhặt được từ trước tra vào ổ khóa điện xe mô tô của anh D bật thì mở được khóa, Rmah H3 dắt xe ra bên ngoài đường nổ máy điều khiển chở Siu K đi về ngôi nhà hoang tại khu vực lô cao su trên đoạn đường từ C, xã E đi xã E. Tại đây, Rmah H3 dùng tay bẻ biển số xe rồi vứt bỏ, sau đó cả hai sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện đi lại, đến ngày 24/7/2024 thì bị Cơ quan Công an phát hiện, thu giữ.
Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận mỗi người còn thực hiện 01 lần trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
- Vào khoảng 10 giờ ngày 03/7/2024 khi đi qua rẫy nhà anh Phan Văn D1 thôn G, xã E, huyện E thì thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter màu đen, biển số 47D1-329.62 đang dựng tại rẫy, trên xe cắm sẵn chìa khóa, nhưng không có người trông coi, Siu K tiếp cận chiếc xe, nổ máy điều khiển đi đến khu vực chợ C5, xã E, huyện E kiểm tra thấy bên trong cốp xe có Giấy chứng nhận đăng ký nên Siu K gặp một người tên T (không xác định được nhân thân) dẫn đi đến quán C6 gặp Hoàng Minh C1 nói muốn cầm cố chiếc xe cùng giấy tờ với số tiền 1.000.000 đồng thì C1 đồng ý cầm cố chiếc xe, C1 đưa cho Siu K và T số tiền 1.000.000 đồng, số tiền có được từ việc cầm cố chiếc xe Siu Kin đã đưa cho T đi mua ma túy về sử dụng hết.
- Vào khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 04/7/2024, R đi bộ lang thang tại đoạn đường thuộc Thôn I, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk thì thấy tiệm sửa xe “Bá Chung” của anh Nguyễn Bá C, có nhiều xe mô tô cũ các loại đang dựng ở trong tiệm, thấy không có người trông coi nên Rmah H3 đi vào dắt 01 chiếc xe máy nhãn hiệu ASTREA màu đỏ - đen, biển số 47AB-009.16 ra ngoài đường mở cốp thì phát hiện bên trong cốp xe có Giấy chứng nhận đăng ký, Rmah H3 điều khiển xe máy vừa trộm cắp được đi đến tiệm sửa xe “H1” do ông Phan Văn H1, Thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk để lại tiệm và vay số tiền 2.000.000 đồng. Số tiền có được Rmah H3 đi mua ma túy và sử dụng hết.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 90/KL-HDĐGTS, ngày 30/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện E kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Jupiter, biển số 47L9-2424 có giá trị 5.000.000 đồng; Xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter, biển số: 47D1-329.62 có giá trị 15.000.000 đồng; Xe máy nhãn hiệu ASTREA, biển số: 47AB-009.16 có giá trị 3.500.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã tạm giữ 01 xe mô tô biển số 47D1-329.62 và giấy chứng nhận đăng ký do Hoàng Minh C1 giao nộp; xe máy biển số: 47AB-009.16 và giấy chứng nhận đăng ký do Phan Văn H1 giao nộp; xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Jupiter không có biển số và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe 47L9-2424 do Hồ Quý D giao nộp.
Đối với biển số xe 47L9-2424 sau khi trộm cắp được các bị cáo đã vứt bỏ tại căn nhà hoang thuộc Thôn I, xã C, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được; đối với chìa khóa xe Rmah H3 khai đã làm rơi trong quá trình di chuyển nên không có căn cứ để thu giữ.
Tại bản Cáo trạng số 109/CT-VKS, ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'leo truy tố các bị cáo tội Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng.
Kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi phân tích các chứng cứ buộc tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: các bị cáo Siu K, Rmah H3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự cho hai bị cáo Siu K và Rmah H3. Áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối Siu Kin. Xử phạt bị cáo: Siu Kin từ 14-16 tháng tù; Rmah Hinh từ 12 - 15 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận việc cơ quan điều tra trả lại Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả xe mô tô biển số 47D1-329.62 và giấy chứng nhận đăng ký cho anh Phan Văn D1; xe mô tô biển số 47AB-009.16 và giấy chứng nhận đăng ký cho anh Nguyễn Bá C; xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Jupiter không có biển số và giấy chứng nhận đăng ký cho anh Hồ Quý D là các chủ sở hữu hợp pháp.
Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với kiểm sát viên.
Người bào chữa cho bị cáo: Bị cáo Siu K được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ như: có hoàn cảnh khó khăn gia đình thuộc hộ cận nghèo; trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn, ăn năn hối cải; tự khai ra lần phạm tội trước, đề nghị HĐXX áp dụng mức hình phạt thấp nhất mà Kiểm sát viên đề nghị. Bị Cáo Siu K thuộc hộ cận nghèo, đề nghị HĐXX miễn án phí cho bị cáo.
Các bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Các bị cáo đều xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tổ tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện E, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận hành vi của mình đã thực hiện đúng như bản cáo trạng của Viện Kiểm sát. Cụ thể Trong thời gian từ ngày 03/7/2024 đến ngày 05/7/2024, tại địa bàn xã E, xã E và xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, Rmah H3 và Siu K đã nhiều lần trộm cắp xe mô tô của nhiều người khác nhau. Trong đó Siu K đã 02 lần trộm cắp xe mô tô với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 20.000.000 đồng; R 02 lần trộm cắp xe mô tô tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 8.500.000 đồng.
Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý để kết luận hành vi trộm cắp nói trên của các bị cáo đã phạm tội “trộm cắp tài sản”.
Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
1.“Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm”.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến tài sản của người khác mà còn gây mất ổn định về an ninh, trật tự tại địa phương, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, có 2 bị cáo tham gia, vai trò, nhân thân khác nhau nên cần phân hóa để có hình phạt tương xứng:
Bị cáo Rmah H3 là người khởi xướng, rủ rê; bị cáo phạm tội nhiều lần, có nhân thân xấu ngày 28/8/2020 bị TAND huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, ngày 02/10/2021 chấp hành xong quyết định; ngày 20/6/2023 bị TAND huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai, xử phạt 11 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, mới chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/02/2024 nhưng không tính là đã có tiền án vì tại bản án nói trên bị cáo là người dưới 18 tuổi. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt trong vụ án này 8.500.000đ nhỏ hơn Siu Kin.
Đối với Siu K mặc dù không phải là người khởi xướng rủ rê nhưng bị cáo cũng phạm tội nhiều lần; đang có 01 tiền án, 01 tiền sự và giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt 20.000.000₫ lớn hơn Rmah H3.
Do vậy, cần áp dụng hình phạt bằng nhau, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo một thời gian nhằm cải tạo giáo dục các bị cáo thành người biết tôn trọng pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Siu K phạm tội hai lần trở lên và đang có tiền án, lần phạm tội này là tái phạm theo điểm g, h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Bị cáo Rmah H3 phạm tội hai lần trở lên, theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
[5] Tình tiết giảm nhẹ: Cả 2 bị cáo đều được hưởng các tình tiết: Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; Tự thú khai ra lần phạm tội trước; thành khẩn khai báo, theo các điểm h, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng Siu K thuộc diện hộ cận nghèo nên áp dụng thêm tình tiết khoản 2 Điều 51 BLHS.
[6] Xét mức hình phạt mà Kiểm sát viên và người bào chữa đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là có phần nhẹ so với hành vi và nhân thân các bị cáo, nên cần xem xét lại khi lượng hình phạt.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng: Việc cơ quan điều tra trả Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả xe mô tô biển số 47D1-329.62 và giấy chứng nhận đăng ký cho anh Phan Văn D1; xe máy biển số 47AB-009.16 và giấy chứng nhận đăng ký cho anh Nguyễn Bá C; xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Jupiter không có biển số và giấy chứng nhận đăng ký cho anh Hồ Quý D là các chủ sở hữu hợp pháp đúng quy định nên chấp nhận.
[9] Về án phí: bị cáo Rmah H3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Siu K thuộc hộ cận nghèo nên miễn án phí cho bị cáo.
[10] Đối với Phan Văn H1 cho R vay tiền và để lại chiếc xe máy biển số 47AB-009.16 tại cửa hàng; Hoàng Minh C1 nhận cầm cố chiếc xe mô tô biển số 47D1-329.62 do Siu K mang đến, tuy nhiên H1 và C1 không biết những chiếc xe máy và xe mô tô là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với H1 và C1 là có căn cứ.
Đối với người có tên T dẫn bị cáo Rmah H3 đi đến quán C6 gặp Hoàng Minh C1 cầm cố chiếc xe mô tô bị cáo trộm cắp với số tiền 1.000.000 đồng bị cáo đưa số tiền này cho T đi mua ma túy về sử dụng chung nhưng quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên không có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Siu K, Rmah H3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, r, s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự cho cả hai bị cáo Siu K; Rmah Hinh; Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự cho bị cáo Siu K
Xử phạt bị cáo Siu K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt giữ, ngày 25/7/2024.
Xử phạt bị cáo Rmah H3 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 25/7/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu.
- Về xử lý vật chứng: Chấp nhận việc cơ quan điều tra trao trả xe mô tô biển số 47D1-329.62 và giấy chứng nhận đăng ký cho anh Phan Văn D1; xe máy biển số 47AB-009.16 và giấy chứng nhận đăng ký cho anh Nguyễn Bá C; xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Jupiter không có biển số và giấy chứng nhận đăng ký cho anh Hồ Quý D.
Về án phí: bị cáo Rmah H3, phải nộp 200.000đ án phí HSST. Bị cáo Siu K thuộc hộ cận nghèo nên được miễm toàn bộ án phí HSST.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Long |
Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐẮK LẮK về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 116/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Siu K và R Mah H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác
