TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 116/2024/ST-HNGĐ
Ngày 24 tháng 9 năm 2024
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lệ Hằng
Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Doãn Quỳnh và bà Nguyễn Thị Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Mai – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 92/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/8/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/8/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 60/2024/QĐHPT-TA ngày 29/8/2024, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D – Sinh năm: 1991 - Trú tại: Xóm X, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
- * Bị đơn: Anh Nguyễn Khắc D1 – Sinh năm: 1989 - Trú tại: Thôn A (Nay là thôn X), xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
- * Người làm chứng: Ông Nguyễn Khắc N – Sinh năm: 1954 - Trú tại: Thôn X, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:
Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Khắc D1 đăng ký kết hôn năm 2010 tại UBND xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 41 ngày 22/12/2010 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc và sinh được 01 con chung. Sau thời gian chung sống, do tính tình, quan điểm sống của hai người không hợp, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Hai bên vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng không được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể tiếp tục, để ổn định cuộc sống và tập trung làm ăn, nên chị D đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Khắc D1.
Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Khắc Trọng T – Sinh ngày: 29/01/2011. Nay ly hôn chị D có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu anh D1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Khắc D1 vắng mặt. Tuy nhiên, thông qua ông Nguyễn Khắc N (Là bố đẻ của anh D1), anh D1 có ý kiến: Nay chị D đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, thì anh D1 cũng đồng ý ly hôn với chị D, do vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Về nuôi con chung: Anh D2 đồng ý để chị D nuôi con. Về tài sản chung: Anh Dũng không yêu cầu giải quyết về tài sản.
- Tại phiên tòa, người làm chứng ông Nguyễn Khắc N vắng mặt, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, ông N trình bày:
Ông N là bố của anh Nguyễn Khắc D1. Anh D2 và chị D kết hôn với nhau vào năm 2010, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và sinh được 01 người con chung là cháu Nguyễn Khắc Trọng T – Sinh ngày: 29/01/2011. Sau một thời gian chung sống thì vợ chồng mâu thuẫn. Nay chị D đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, anh D2 có nói với ông N là anh D2 đồng ý ly hôn với chị D do vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Về nuôi con chung: Anh D2 đồng ý để chị D nuôi con. Về tài sản chung: Anh Dũng không yêu cầu giải quyết về tài sản. Do anh D2 đi làm ăn xa nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh D2.
- Tại phiên Tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện A phát biểu ý kiến về vụ án và về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình trong suốt quá trình điều tra, hòa giải và xét xử, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được tống đạt và thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt và có đề nghị giải quyết vắng mặt. Như vậy, vụ án đã được thụ lý, điều tra và xét xử đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Nguyễn Khắc D1. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Khắc Trọng T – sinh ngày: 29/01/2011 cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ: Không; Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn thụ lý, giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; Đối với bị đơn, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và tài liệu chứng cứ liên quan và có đề nghị giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Khắc D1 kết hôn với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân tự nguyện, hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của vợ chồng anh D1 chị D hạnh phúc và sinh được 01 người con chung. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên đã sống ly thân. Mặc dù đã bàn bạc để hàn gắn nhưng không được. Nay tình cảm không còn, chị D đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho vợ chồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, mặc dù anh Nguyễn Khắc D1 vắng mặt. Tuy nhiên, thông qua ông Nguyễn Khắc N là bố đẻ của anh D1 thì anh D1 đồng ý ly hôn với chị D, do anh D1 đi làm xa nên anh D1 đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Vì vậy, có căn cứ Tòa án xét xử vụ án theo thủ tục chung do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định.
Xét thấy mục đích của hôn nhân vợ chồng là cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc bền vững, cùng nhau chăm lo cuộc sống. Nhưng giữa chị D và anh D1 đã không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau, tình nghĩa vợ chồng không còn. Do đó, hôn nhân giữa chị D và anh D1 lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D là có căn cứ theo khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình và phù hợp với ý kiến của anh D1 là đồng ý ly hôn với chị D.
[2.2] Về nuôi con chung: Vợ chồng chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Khắc D1 có 01 con chung là Nguyễn Khắc Trọng T – Sinh ngày: 29/01/2011. Nay ly hôn, chị D có nguyện vọng nuôi con và anh D1 đồng ý, nên việc tiếp tục giao con Nguyễn Khắc Trọng T cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình và cũng phù hợp với nguyện vọng của các đương sự. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3]. Về tài sản chung và nợ: Chị Nguyễn Thị D không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[2.4]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016.
2. Tuyên xử:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn với anh Nguyễn Khắc D1.
2.2. Về nuôi con chung: Giao con chung là Nguyễn Khắc Trọng T – Sinh ngày: 29/01/2011 cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.
2.3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị D không yêu cầu anh Nguyễn Khắc D1 cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
2.4. Về tài sản chung và nợ: Chị Nguyễn Thị D không yêu cầu Toà án giải quyết.
2.5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn (Đã nộp theo biên lai số 0007921 ngày 01/8/2023 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh Nghệ An).
2.6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - TAND tỉnh Nghệ An;
- - VKSND huyện A;
- - Chi cục THADS huyện A;
- - UBND xã Thọ Sơn (Nơi ĐKKH);
- - Lưu hồ sơ vụ án.
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Lệ Hằng |
Bản án số 116/2024/ST-HNGĐ ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A – TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 116/2024/ST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A – TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị D ly hôn Nguyễn Khắc D
