Hệ thống pháp luật

TAND.TP NHATRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Án số: 116/2024/DSST

Ngày: 20/9/2024

V/v: “T/c hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Lê Thị Hồng Minh

- Hội thẩm nhân dân : Ông Ngô Khắc Thinh

Ông Mai Văn Thuận

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Võ Thu Thủy - Cán bộ Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang: Bà Nguyễn Cẩm Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 20/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên toà xét xử công khai vụ án thụ lý số 90/2024/TLST – DS ngày 19/02/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2024/QÐST - DS ngày 06 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 118/2024/QÐST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân Hàng TMCP Đ

Địa chỉ: A đường B P. V - N - Khánh Hòa.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Đào Thị Thu H

Chức vụ: Nhân viên Phát triển Kinh doanh - Ngân Hàng TMCP Đ.

Có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N

Địa chỉ: Tổ dân phố T, N, N, tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn H1

Địa chỉ: Tổ dân phố T, N, N, tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai, lời trình bày trong quá trình tố tụng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - bà Đào Thị Thu H trình bày: Ngày 13/01/2021, bà Nguyễn Thị N, có địa chỉ thường trú tại: Tổ dân phố T, N, N, tỉnh Khánh Hòa, có vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh N1 như sau: Số tiền vay: 20.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi triệu đồng chẵn); Thời hạn vay: 12 tháng (từ ngày 13/01/2021 đến 13/01/2022); Lãi suất vay: 12%/năm; Mục đích: Cho vay sản xuất, kinh doanh cá thể và hộ gia đình; Tài sản đảm bảo: Tín chấp; Số tiền trả góp hàng tháng: mỗi tháng trả 2.000.000 đồng trong vòng 11 tháng đầu, tháng thứ 12 (tháng cuối) trả 400.000 đồng. Với số tiền vay, lãi suất và kỳ hạn như trên thì bà Nguyễn Thị N phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền là: 22.400.000 đồng (trong đó, vốn gốc là: 20.000.000 đồng, tiền lãi là: 2.400.000 đồng). Tính đến ngày 02/08/2024, bà Nguyễn Thị N mới chỉ trả số tiền 10.000.000 đồng (bằng chữ: Mười triệu đồng), trong đó: Trả nợ gốc: 8.461.538 đồng; Trả nợ lãi trong hạn: 1.538.462 đồng; Trả nợ lãi quá hạn: 0 đồng.

Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ yêu cầu bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn H1 trả nợ nhưng bà N và ông H1 vẫn không trả nợ cho ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng Đ đã chuyển toàn bộ dư nợ gốc của bà N và ông H1 sang nợ quá hạn.

Do đó, Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh N1 khởi kiện bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn H1 (người có nghĩa vụ liên quan) đến Tòa án để yêu cầu Tòa án giải quyết; buộc bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn H1 thanh toán toàn bộ số nợ gốc và lãi vay tạm tính đến ngày 26/8/2024 là: 18.561.572 đồng (Mười tám triệu năm trăm sáu mươi mốt nghìn năm trăm bảy mươi hai đồng), trong đó: Nợ gốc: 11.538.462 đồng; Nợ lãi trong hạn: 861.538 dồng; Nợ lãi quá hạn: 6.161.572 đồng.

Và toàn bộ số tiền lãi phát sinh (nếu có) từ ngày 27/8/2024 cho đến khi bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn H1 trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP Đ – Chi Nhánh N1.

Đồng thời, bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn H1 phải chịu án phí và mọi chi phí có liên quan phát sinh trong vụ khởi kiện để nộp cho Nhà nước theo đúng qui định của pháp luật.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H1 không có mặt, Tòa án đã tiến hành thủ tục tố tụng cấp, tống đạt và niêm yết đối với bà N và ông H1 theo quy định để bà N và ông H1 thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình nhưng bà N và ông H1 vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp tài liệu, chứng cứ nên Tòa án không lấy được lời khai của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Tại văn bản phát biểu ý kiến, đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong việc giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và các đương sự là đúng quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 116, điều 463, Điều 466; Điều 468 và Điều 470 Bộ luật dân sự; Điều 147; Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí. Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn H1 thanh toán toàn bộ số nợ gốc và lãi vay tạm tính đến ngày 26/8/2024 là: 18.561.572 đồng (Mười tám triệu năm trăm sáu mươi mốt nghìn năm trăm bảy mươi hai đồng), trong đó: Nợ gốc: 11.538.462 đồng; Nợ lãi trong hạn: 861.538 dồng; Nợ lãi quá hạn: 6.161.572 đồng. Và toàn bộ số tiền lãi phát sinh (nếu có) từ ngày 27/8/2024 cho đến khi bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn H1 trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP Đ – Chi Nhánh N1.

2/ Án phí: Bị đơn phải chịu án phí DSST. H2 lại án phí cho nguyên đơn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh N1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Nguyễn Thị N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H1 phải thanh toán khoản tiền theo Đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn ngày 22/12/2020 và Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00684418/0136316101T21452 ngày 13/01/2021, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”. Theo thỏa thuận tại điểm 13.1 của Hợp đồng tín dụng thì “ hai bên thống nhất Tòa án có thẩm quyền giải quyền tranh chấp là Tòa án có thẩm quyền nơi Chi nhánh N1 đặt trụ sở giao dịch”, Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh N1 có trụ sở tại số A đường B phường V, N, Khánh Hòa, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3, Điều 36; điểm b khoản 1 Điều 39; điểm b, khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tư cách tố tụng: Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh N1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Nguyễn Thị N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H1 phải thanh toán khoản tiền đã vay. Hội đồng xét xử xác định ông Trần Văn H1 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Theo Đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn ngày 22/12/2020, ông Trần Văn H1 ký với tư cách người bảo lãnh, tuy nhiên, ông Trần Văn H1 là chồng của bị đơn bà Nguyễn Thị N, cùng là người sử dụng vốn vay cho mục đích hộ kinh doanh cá thể với bà N, nên cũng phải liên đới trách nhiệm trả nợ cùng bị đơn bà N.

[1.2] Về thủ tục tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – bà Đào Thị Thu H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn bà Nguyễn Thị N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H1 đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung vụ án: Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh N1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn H1 thanh toán toàn bộ số nợ gốc và lãi vay tạm tính đến ngày 26/8/2024 là: 18.561.572 đồng (Mười tám triệu năm trăm sáu mươi mốt nghìn năm trăm bảy mươi hai đồng), trong đó: Nợ gốc: 11.538.462 đồng; Nợ lãi trong hạn: 861.538 đồng; Nợ lãi quá hạn: 6.161.572 đồng. Và toàn bộ số tiền lãi phát sinh (nếu có) từ ngày 27/8/2024 cho đến khi bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn H1 trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP Đ – Chi Nhánh N1.

[2.1] Về yều cầu trả nợ gốc:

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn H1 đã vi phạm thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 16/6/2021 đến nay. Tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan liên đới trả số tiền nợ gốc chưa thanh toán là 11.538.462 đồng.

[2.2] Về yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi:

Theo khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động trong họt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Từ ngày 16/6/2021, bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh N1 đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là phù hợp theo thỏa thuận tại mục 2.2, 2.3 Điều 1 của Hợp đồng tín dụng.

Tại mục 2.1, 2.2 Điều 1 của Hợp đồng tín dụng, các bên thỏa thuận về lãi suất phù hợp với quy định của pháp luật nên yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải liên đới thanh toán số tiền lãi trong hạn: 861.538 đồng; số tiền lãi quá hạn: 6.161.572đồng là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 27/8/2024 cho đến khi hoàn tất việc thanh toán xong khoản vay nêu trên là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 8, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQQ –HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những căn cứ nêu trên, xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đề nghị là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H1 có nghĩa vụ trả nợ toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 26/8/2024 là: 18.561.572 đồng (Mười tám triệu năm trăm sáu mươi mốt nghìn năm trăm bảy mươi hai đồng), trong đó: Nợ gốc: 11.538.462 đồng; Nợ lãi trong hạn: 861.538 đồng; Nợ lãi quá hạn: 6.161.572 đồng. Và toàn bộ số tiền lãi phát sinh (nếu có) từ ngày 27/8/2024 cho đến khi bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn H1 trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP Đ – Chi Nhánh N1.

[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí DSST theo quy định. H2 lại tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoàn 3 Điều 36; điểm b, khoản 1 Điều 36; điểm b, khoản 1 Điều 40; khoản 4 Điều 91 và khoản 2 Điều 92; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 3, Điều 40; Điều 117, điều 385; Điều 401; khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí;

Căn cứ khoản 2 Điều 8, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQQ -HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao dướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh N1 đối với bị đơn bà Nguyễn Thị N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H1:

Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H1 có nghĩa vụ liên đới phải thanh toán cho cho Ngân hàng TMCP Đ Chi nhánh N1 theo Đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn ngày 22/12/2020 và Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00684418/0136316101T21452 ngày 13/01/2021 tạm tính đến ngày 26/8/2024 tổng số tiền là: 18.561.572 đồng (Mười tám triệu năm trăm sáu mươi mốt nghìn năm trăm bảy mươi hai đồng), trong đó: Nợ gốc: 11.538.462 đồng; Nợ lãi trong hạn: 861.538 đồng; Nợ lãi quá hạn: 6.161.572 đồng. Và toàn bộ số tiền lãi phát sinh (nếu có) từ ngày 27/8/2024 cho đến khi bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn H1 trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP Đ – Chi Nhánh N1.

2/ Án phí: Bà Nguyễn Thị N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H1 phải nộp án phí DSST là 928.078 đồng (Chín trăm hai mươi tám nghìn không trăm bảy mươi tám đồng)

H2 lại cho Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh N1 số tiền 390.000 đồng (Ba trăm chín mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền ký hiệu BLTU/23 số 0001871 ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang.

3/. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

4/. Quy định: Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKS Tp. Nha Trang;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Nha Trang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VT, HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2024/DSST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 116/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng yêu cầu bà Dương THị Nga trả nợ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger