Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Bản án số: 116/2024/DS-ST

Ngày: 27-8-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tám
2. Ông Nguyễn Văn Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh - Tòa án Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xét xử vụ án Dân sự thụ lý số 327/2024/DSST ngày 12 tháng 6 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2024/QĐST-XX ngày 23 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 107/2024/QĐHPT-DS ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Công ty T2

Địa chỉ: Số I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật ông LEE YUN HYOUNG, chức danh Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công ty L, Người đại diện theo pháp luật: Ông Cồ Lê H, chức vụ Giám đốc (theo văn bản uỷ quyền số 09/2024/GUQ-MAFC ngày 02-5-2024)

Địa chỉ: Số B ( tầng 1+ 3) L, phường V,Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người được uỷ quyền lại : Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 2001(có đơn xin xét xử vắng mặt) (Văn bản uỷ quyền số 02/GUQ-2024 ngày 20-5-2024)

Địa chỉ: Số B L, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

2.Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1982(vắng mặt).

Địa chỉ: Số D L,phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 22-5-2024 và qua quá trình làm việc, đại diện Công ty T2 “Tên viết tắt Công ty T2” trình bày:

Ngày 10-3-2023, Công ty T2 (VIỆT NAM) (sau đây gọi tắt là “Công ty T2") ký Hợp đồng tín dụng số: 4377513 (sau đây gọi tắt là “Hợp đồng tín dụng”) về việc cấp tín dụng cho bà Nguyễn Thị Thu T1 với khoản vay trị giá 28.325.100 đồng (Bằng chữ: Hai mươi tám triệu, ba trăm hai mươi lăm nghìn, một trăm đồng), trong đó bao gồm: 26.300.000 đồng tiền vay và 2.025.100 đồng tiền bảo hiểm khoản vay với lãi suất 50% /năm. Theo đó, bà Nguyễn Thị Thu T1 có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền 1.768.782 đồng trong kỳ hạn 36 tháng kể từ ngày 15-4-2023 đến ngày 15-3-2026. Sau khi ký kết, Công ty T2 đã tiến hành giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho bà Nguyễn Thị Thu T1 với hình thức chuyển khoản qua số tài khoản ngân hàng mà bà T1 đã cũng cấp. Qua đó, bà T1 có nghĩa vụ phải thanh toán số tiền hàng tháng cho phía Công ty T2 theo đúng thỏa thuận đã ký kết tại Hợp đồng tín dụng trên. Tuy nhiên, từ ngày 16-9-2023, bà T1 đã ngừng thanh toán khoản vay cho Công ty T2 mặc dù Công ty đã nhiều lần nhắc nhở cũng như gọi điện liên hệ đề nghị bà Nguyễn Thị Thu T1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình nhưng không nhận được bất kỳ phản hồi nào từ phía bà Nguyễn Thị Thu T1 về việc thanh toán khoản vay đã quá hạn trên. Tính đến thời điểm hiện tại, bà T1 chỉ thanh toán được 06 kỳ với tổng số tiền 7.405.485 đồng (Bằng chữ: Bảy triệu bốn trăm lẻ năm nghìn, bốn trăm tám mươi lăm đồng). Việc bà Nguyễn Thị Thu T1 cố tình trì hoãn thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản vay theo thỏa thuận trong “Hợp đồng tín dụng” mà hai bên ký kết đã trực tiếp ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty T2.Vì vậy, Công ty T2 (Việt Nam) yêu cầu Toà án giải quyết trong vụ án là buộc bà T1 phải thanh toán toàn bộ khoản vay cho Công ty T2 (bao gồm dư nợ gốc còn lại của khoản vay, lãi, phí) tính đến ngày 23-8-2024 với tổng số tiền là 42.342.293đồng và lãi phát sinh từ ngày 24-8-2024 đến khi thanh toán hết nợ.

2. Bị đơn- bà Nguyễn Thị Thu T1 trong suốt quá trình tố tụng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do.

3. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

3.1.Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử và Thư ký tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn chấp hành tốt các quy định pháp luật tố tụng, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.

3.2.Về nội dung: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T2 (Việt Nam), buộc bà Nguyễn Thị Thu T1 phải có nghĩa vụ trả nợ cho Công ty T2 (Việt Nam) số tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh như yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ kết quả tranh luận và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp.Vũng Tàu, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Công ty T2 khởi kiện“ Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với bà Nguyễn Thị Thu T1, bà T1 có nơi cư trú tại thành phố V nên xác định đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Tại thời điểm ký kết hợp đồng, bà Nguyễn Thị Thu T1, cung cấp địa chỉ tại số D L, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu đã niêm yết, tống đạt giấy triệu tập hợp lệ yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu T1 đến Tòa để giải quyết vụ án, hòa giải, xét xử. Tuy nhiên, bà T1 vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Tại phiên tòa, Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn.

[2]. Về nội dung:

Theo đề nghị vay vốn ngày 08-3-2023 của bà Nguyễn Thị Thu T1. Ngày 10-3-2023, bà Nguyễn Thị Thu T1 và Công ty T2 ( gọi tắt là “Công ty T2") đã ký Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 4377513 về việc cấp tín dụng cho bà T1 số tiền 28.325.100 đồng (Bằng chữ: Hai mươi tám triệu, ba trăm hai mươi lăm nghìn, một trăm đồng), trong đó bao gồm: 26.300.000 đồng tiền vay và 2.025.100 đồng tiền bảo hiểm khoản vay với lãi suất 50% /năm. Theo đó, bà Nguyễn Thị Thu T1 có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền 1.768.782 đồng trong kỳ hạn 36 tháng kể từ ngày 15-4-2023 đến ngày 15-3-2026.

Sau khi ký kết hợp đồng, Công ty T2 đã thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng là giải ngân số tiền nêu trên vào tài khoản cho bà T1. Tuy nhiên, bà T1 không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán. Theo thỏa thuận trong hợp đồng bà T1 mới thanh toán được 06 kỳ với tổng số tiền 7.405.485 đồng (Bằng chữ: Bảy triệu bốn trăm lẻ năm nghìn, bốn trăm tám mươi lăm đồng). Ngày 16-9-2023, bà T1 đã ngừng thanh toán khoản vay cho Công ty T2.

Tính đến ngày 23-8-2024, bà T1 còn nợ Công ty T2 tổng số tiền là: 42.342.293 đồng Cụ thể :

  • + Số tiền gốc : 28.325.100 đồng;
  • + Số tiền lãi phải thu: 12.253.881 đồng;
  • + Số tiền lãi trên nợ gốc bị quá hạn phải thu: 1.206.151 đồng;
  • + Số tiền lãi chậm trả phải thu: 557.161 đồng.

[2.1]. Xét tư cách pháp nhân của nguyên đơn và tính pháp lý của giấy Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4377513 ngày 10-3-2023:

[2.1.1].Về thẩm quyền và tư cách pháp nhân của nguyên đơn: Công ty T2 được Sở kế hoạch Đầu tư Thành phố H cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo mã số doanh nghiệp C. Căn cứ theo điểm a Khoản 2 Điều 8 và Điều 10 của Điều lệ, Công ty T2 được cấp tín dụng dưới hình thức “cho vay, bao gồm cả cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng"... cấp tín dụng trên cơ sở có bảo đảm hoặc không có bảo đảm tài sản của khách hàng vay... nên Hội đồng xét xử xác định Công ty T2 có đủ tư cách để ký Hợp đồng tín dụng với khách hàng là cá nhân, tổ chức.

[2.1.2]. Xét hiệu lực của Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4377513 ngày 10-3-2023:

Ngày 10-3-2023, bà Nguyễn Thị Thu T1 và Công ty T2 (Việt Nam) đã ký Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 3677449. Về hình thức của hợp đồng được lập thành văn bản do người có thẩm quyền của Công ty T2 và bà T1 tự nguyện giao kết. Trong hợp đồng bà T1 không trực tiếp ký tên vào nhưng có giao kết hợp đồng dưới hình thức chữ ký số do bà T1 đã đăng ký loại chứng thư số OID-B1.0 -1D do Trung tâm D chứng nhận. Theo Điều 8 Nghị định 130/2018/NĐ-CP quy định về giá trị của chữ ký số như sau: “ Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần có chữ ký thì yêu cầu đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bằng chữ ký số và chữ ký số đó được đảm bảo an toàn theo quy định tại Điều 9 Nghị định 130/2018/NĐ-CP. Điều 9 Nghị định 130/2018/NĐ-CP quy định chữ ký số được xem là chữ ký điện tử an toàn khi đáp ứng các điều kiện sau:

“ Chữ ký số được tạo ra trong thời gian chứng thư số có hiệu lực và kiểm tra được bằng khoá công khai ghi trên chứng thư số đó”;

“ Chữ ký số được tạo ra bằng việc sử dụng khoá bí mật tương ứng với khoá công khai ghi trên chứng thư số do một trong các tổ chứng sau đây cấp:

  • + Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số quốc gia;
  • + Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số Chính phủ;
  • + Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng.

Công ty TNHH H1 là đơn vị được thực hiện dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng FPT- CA, theo giấy phép cung cấp dịch vụ chữ ký số công cộng 527/GP-BTTTT ngày 12-10-2015 của Bộ T3 nên chữ ký số của bà Nguyễn Thị Thu T1 đăng ký và được Trung tâm D chứng thực có giá trị pháp lý.

Nội dung của Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4377513 ngày 10-3-2023 không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, thể hiện ý trí tự nguyện của các bên giao kết, phù hợp với quy định tại các Điều 16, 19, 75, 86, 117 và Điều 119 của Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4377513 ngày 10-3-2023 giao kết giữa bà Nguyễn Thị Thu T1 với Công ty T2 có hiệu lực pháp luật.

[2.2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Quá trình thực hiện hợp đồng bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và nợ lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng và Điều 8 của hợp đồng, trong đó hai bên đã thỏa thuận về thời hạn thanh toán nợ, mức lãi suất cũng như lãi phạt nếu vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa,Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bà T1 đến làm việc, trình bày ý kiến và tạo điều kiện để cho hai bên hòa giải nhưng vẫn vắng mặt và không đưa ra ý kiến. Như vậy, bị đơn đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình.

Từ nhận định nêu trên có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T2 đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T1;

Ý kiến của đại diện viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, điển b, khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T2 đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T1.

Áp dụng các Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 02 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 13 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban T4 quy định về mức thu,miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Buộc bà Nguyễn Thị Thu T1 phải trả cho Công ty T2 (Việt Nam) tổng số tiền là 42.342.293 đồng Cụ thể

  • + Số tiền gốc : 28.325.100 đồng;
  • + Số tiền lãi phải thu: 12.253.881 đồng;
  • + Số tiền lãi trên nợ gốc bị quá hạn phải thu: 1.206.151 đồng;
  • + Số tiền lãi chậm trả phải thu: 557.161 đồng.

Theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4377513 ngày 10-3-2023.

Kể từ ngày tiếp theo ngày 24-8-2024, bà Nguyễn Thị Thu T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Thu T1 phải chịu là 2.117.115đ ( Hai triệu, một trăm mười bảy ngàn, một trăm mười lăm đồng).

Công ty T2 (Việt Nam) được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí 900.000đ(Chín trăm ngàn đồng), theo biên lai thu số 0000134 ngày 10-06-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu.

3.Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để yêu cầu xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm,(đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật).

4.Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án ND tỉnh BR-VT;
  • - Viện kiểm sát ND Tp-VT;
  • - Thi hành án dân sự Tp- VT;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Cúc

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2024/DS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 116/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Công ty M -T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger