|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 116/2024/HS-ST Ngày: 20-5-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Kim Thành
Bà Trịnh Thị Lan
- Thư ký phiên toà: Ông Chu Trần Khánh Vinh - Thư ký Toà án
nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam
Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ích Sáng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 110/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên Trần Xuân Đ, sinh năm 1990; nơi sinh: tỉnh Nam Định; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã M, huyện M, tỉnh Nam Định.; số căn cước công dân [...]; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn Đ1 (đã chết) và bà Trần Thị T; gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ hai; có vợ là Nguyễn Thị Huyền T1 (đã ly hôn) và 01 con; tiền án: không; tiền sự: ngày 29-12-2023, công an xã M, huyện M, tỉnh Nam Định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; nhân thân: Ngày 17-8-2018, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29-01-2024, chuyển tạm giam từ ngày 04-02-2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
1
- Họ và tên: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1986; nơi sinh: tỉnh Nam Định; nơi thường trú: Số B T, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; chỗ ở hiện nay: Số C Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân [...]; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 2/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Nguyễn Văn Đ2 (đã chết) và bà Vũ Thị M; gia đình có 03 chị em, bị cáo là thứ hai; có vợ là Tạ Thị T2 và 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 04-8-2016, Công an phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi xâm hại sức khỏe người khác; Ngày 18-06-2009, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Chứa mại dâm”; Ngày 05-02-2015, Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29-01-2024, chuyển tạm giam từ ngày 04-02-2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Ông Phạm Bá H và Ông Nguyễn Văn T3 (không triệu tập đến phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 28-01-2024 nhận được tin báo tố giác tội phạm của quần chúng nhân dân, tổ công tác Công an thành phố N phối hợp với Công an xã N, thành phố N tiến hành kiểm tra nhà ở của Nguyễn Văn Q địa chỉ 330 đường Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định phát hiện Trần Xuân Đ và Nguyễn Văn Q có biểu hiện về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: ở trên mặt ghế trong phòng khách có 01 vỏ túi nilong màu trắng kích thước (6x9)cm; 01 vỏ túi nilong màu trắng kích thước (2,5x2,5)cm; 01 đĩa sứ hoa văn màu trắng đường kính khoảng 21cm, trên mặt đĩa có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (tổ công tác đã cho chất rắn dạng tinh thể màu trắng này vào trong túi nilong màu trắng kích thước (2,5x2,5)cm, niêm phong kí hiệu M1); 01 thẻ ngân hàng mang tên Nguyễn Văn Q, trên mặt thẻ có bám dính chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 01 ống rỗng hình trụ dài khoảng 14cm được cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, hai đầu được cố định bằng hai vỏ đầu lọc thuốc lá, bên trong ống có bám dính chất rắn dạng tinh thể màu trắng, lần lượt niêm phong ký hiệu M2, M3; niêm phong 01 đĩa sứ hoa văn màu trắng, có đường kính 21cm trên mặt đĩa có chất bám định dạng tinh thể màu trắng (niêm phong mã số PS2A069020); thu giữ 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ, đã cũ bên cạnh đĩa sứ. Ngoài ra, tạm giữ của Đ 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 18B2-915.13 và 01 điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ
2
S; thu giữ của Q 01 chiếc điện thoại di động màu xanh, mặt sau có chữ Oppo. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã tiến hành thu mẫu nước tiểu của Trần Xuân Đ và Nguyễn Văn Q, lần lượt niêm phong ký hiệu K1, K2.
Bản kết luận giám định số 417 ngày 01-02-2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận:
- Mẫu rắn dạng tỉnh thể màu trắng trong 01 (một) túi ni lông màu trắng kích thước khoảng (2,5x2,5)cm, trong phong bì thư được niêm phong dán kín ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Ketamine. Khối lượng mẫu M1: 0,660 gam.
- Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng bám dính trên các vật dụng trong 03 (ba) niêm phong ký hiệu M2, M3 và PS2A 069020 gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Ketamine. Đều không xác định được khối lượng mẫu.
- Có thành phần các chất gồm: MDMA, Ketamine, N và D trong 02 (hai) mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu K1, K2 gửi giám định.
Tại cơ quan điều tra Trần Xuân Đ và Nguyễn Văn Q khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 28-01-2024, sau khi ăn cưới tại xóm A xã M, huyện M, tỉnh Nam Định, Đ rủ Q mua ma túy về sử dụng, Q đồng ý, bảo Đ mua ma túy xong thì mang về nhà Q địa chỉ ở C đường Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định cùng sử dụng. Sau đó, Đ điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B2- 915.13 đi mua ma túy, trên đường đi Đức lấy điện thoại di động S1 màu đen, có số thuê bao 0911191245 gọi đến số thuê bao 0943513240 cho T4 (là bạn xã hội mới quen, Đ không rõ lai lịch, địa chỉ của T4) hỏi mua 01 viên ma túy tổng hợp loại thuốc lắc và 01 chỉ ma túy tổng hợp loại Ketamine. T4 đồng ý, bảo Đ chuyển 1.600.000 đồng tiền mua ma túy vào tài khoản của Đ3 (T4 có tài khoản của Đ3 là do trước đó, Đ mua ma túy của T4 vài lần, không nhớ rõ thời gian cụ thể, T4 đều bảo chuyển vào tài khoản 025816688 đăng ký tại Ngân hàng M1 mang tên Tạ Quốc Đ4, sinh năm 1995, trú tại 4 L, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định). Lúc này, Đ không còn tiền nên gọi vào số di động 0855361986 của Q bảo chuyển tiền mua ma túy, Q đồng ý, chuyển 1.600.000 đồng từ tài khoản 198607999999 đăng ký tại Ngân hàng V của Q đến tài khoản số 9911191245 đăng ký tại ngân hàng V1 của Đ. Sau khi nhận tiền chuyển khoản của Q, Đ chuyển số tiền 1.600.000 đồng từ tài khoản của Đ đến tài khoản 025816688 Ngân hàng M1 mang tên Tạ Quốc Đ4, rồi gọi điện cho T4 nói “đã chuyển tiền mua ma túy vào tài khoản của Đ4", T4 nói Đ ra khu vực khách sạn N1, phường L, thành phố N để giao ma túy. Khi đến, T4 đưa cho Đ 01 túi nilong màu trắng kích thước khoảng (6x9)cm, bên trong có 01 viên ma túy tổng hợp loại thuốc lắc và 01 túi nilong màu trắng kích thước khoảng (2,5x2,5)cm, bên
3
trong có ma túy tổng hợp loại Ketamine. Đ cầm số ma túy mua được mua về nhà Q để trên mặt ghế tại phòng khách, rồi lấy viên thuốc lắc bẻ làm đôi đưa cho Q một nửa, còn một nửa viên thuốc lắc Đ sử dụng bằng hình thức uống; sau đó, Đ vào trong phòng bếp nhà Q lấy 01 chiếc đĩa sứ màu trắng hơ lửa cho nóng đĩa, mang ra để ở nền nhà phòng khách chỗ Q ngồi, còn Q lấy 01 thẻ ngân hàng mang tên Nguyễn Văn Q và 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng đưa cho Đ để cuốn thành ống hút, Đ cầm tờ tiền Quân đưa rồi lấy 02 vỏ đầu lọc thuốc lá cuốn thành ống rỗng hình trụ dài khoảng 14 cm. Sau đó, Đ lấy gói ma túy tổng hợp loại Ketamine đổ ra đĩa rồi sử dụng bằng hình thức hít. Sau khi sử dụng ma túy xong, Đ đưa đĩa sứ có ma túy dạng Ketamine cho Q sử dụng bằng hình thức hít tương tự như Đ. Q sử dụng ma túy xong, để đĩa sứ có ma túy dạng Ketamine, thẻ ngân hàng, ống hút lên trên mặt ghế phòng khách nhà Q. Khi Đ và Q đang sử dụng ma túy thì bị, bắt quả tang. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã tiến hành xác minh số tài khoản ngân hàng và số thuê bao di động xác định: chủ sở hữu số tài khoản 198607999999 đăng ký tại Ngân hàng V và số thuê bao 0855361986 của Nguyễn Văn Q, chủ sở hữu số tài khoản 9911191245 đăng ký tại ngân hàng V1 và số thuê bao 0911191245 của Trần Xuân Đ, chủ sở hữu khoản 025816688 đăng ký tại Ngân hàng M1 là Tạ Quốc Đ4, sinh năm 1995, trú tại 4 L, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Ngày 14-3-2024, Tạ Quốc Đ4 bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N bắt giữ về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N.
Tại cơ quan điều tra, Đ4 khai làm dịch vụ nhận, chuyển tiền 24/7 cho khách bằng dịch vụ Internet banking, do lượng khách nhiều nên không nhớ ngày 28-01-2024 có ai tên T4 nhờ Đ4 chuyển số tiền 1.600.000 đồng và không biết mục đích khách chuyển, nhận tiền để làm gì; tiến hành cho Đ4 nhận dạng Đ và Q, kết quả Đ4 không quen biết Đ và Q nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với Đ4.
Đối tượng tên T4 là người bán ma túy cho Đ, theo lời khai của Đ đã mua ma túy vài lần của T4 (không nhớ rõ thời gian, địa điểm) và liên hệ với T4 qua số điện thoại 0943.513.xxx. Cơ quan điều tra xác định chủ thuê bao 0943513240 là anh Hoàng Ngọc T5, sinh ngày 15-7-1980, địa chỉ tại phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu; anh T5 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, hiện tại không có mặt tại địa phương, không xác định được anh T5 đi đâu, làm gì và không xác định đối tượng tên T4 người bán ma túy cho Đ là ai nên Cơ quan điều tra tách ra xử lý sau.
4
Bản cáo trạng số 115/CT-VKSND-TPNĐ ngày 03-5-2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Trần Xuân Đ và Nguyễn Văn Q và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo bị cáo Trần Xuân Đ và bị cáo Nguyễn Văn Q và đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo Trần Xuân Đ và Nguyễn Văn Q tại phiên tòa thể hiện hành vi của các bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Xuân Đ và bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt chính: Căn cứ khoản 1 Điều 255; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Trần Xuân Đ từ 42 tháng đến 48 tháng tháng tù.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 36 tháng đến 42 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ số ma tuý, dụng cụ sử dụng ma tuý gồm 01 bật lửa, 01 đĩa sứ, 01 thẻ ngân hàng V2 mang tên Nguyễn Văn Q cùng 02 vỏ túi nilong và 02 mẫu nước tiểu đã thu giữ trong vụ án. Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 20.000 đồng và 02 điện thoại di động đều đã cũ tạm giữ của bị cáo Trần Xuân Đ và Nguyễn Văn Q;
Bị cáo bị cáo Trần Xuân Đ và Nguyễn Văn Q nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
5
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Xuân Đ và bị cáo Nguyễn Văn Q không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của hai bị cáo Trần Xuân Đ và Nguyễn Văn Q trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 28-01-2024; Biên bản thu giữ vật chứng ngày 28-01-2024; Bản kết luận giám định số 417/KL-KTHS ngày 01-02-2024 của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 28-01-2024, tại địa chỉ C đường Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định, Trần Xuân Đ và Nguyễn Văn Q đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo Trần Xuân Đ và Nguyễn Văn Q là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý và sử dụng chất gây nghiện, sức khoẻ con người và trật tự xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tổ chức sử dụng ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo Đ chuẩn bị ma túy, chuẩn bị công cụ sử dụng ma túy, bị cáo Q chuẩn bị địa điểm sử dụng ma túy. Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Xuân Đ và bị cáo Nguyễn Văn Q đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được qui định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về vai trò của các bị cáo: Bị cáo Đ là người khởi xướng, bàn bạc rủ bị cáo Q mua ma tuý và trực tiếp mua ma tuý mang về nhà bị cáo Q, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma tuý nên giữ vai trò thứ nhất. Bị cáo Q là người chuẩn bị địa điểm, ứng tiền mua ma tuý, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma tuý nên giữ vai trò thứ hai.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Xuân Đ và bị cáo Nguyễn Văn Q đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
6
Bị cáo Trần Xuân Đ và bị cáo Nguyễn Văn Q không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của Bị cáo Trần Xuân Đ và bị cáo Nguyễn Văn Q là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N. Xét vai trò của từng bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng với mức hình phạt tù đối với bị cáo Đ nghiêm khắc hơn đối với bị cáo Q nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Trần Xuân Đ và bị cáo Nguyễn Văn Q không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Số ma túy thu giữ của các bị cáo Trần Xuân Đ và Nguyễn Văn Q là vật nhà nước cấm lưu hành, 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ và 02 vỏ túi nilong màu trắng; 01 thẻ ngân hàng mang tên Nguyễn Văn Q; 01 đĩa sứ màu trắng, 02 mẫu nước tiểu không còn giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen đã cũ của bị cáo Trần Xuân Đ và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo thu của bị cáo Nguyễn Văn Q do các bị cáo dùng để liên lạc khi mua ma tuý; Số tiền 20.000 đồng dùng làm công cụ sử dụng ma tuý nên tịch thu sung quỹ nhà nước;
[7] Về các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Trần Xuân Đ do tài liệu chứng cứ chưa đủ, chưa xác định được đối tượng nên Công an thành phố N, tách ra để điều tra, xử lý sau.
Đối với Chiếc xe máy BKS 18B2-91513 đã cũ thu giữ của bị cáo Trần Xuân Đ, hiện chưa xác minh được nguồn gốc xe, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan CSĐT- C tách ra điều tra tiếp, khi nào có căn cứ đề nghị xử lý sau.
[8] Về án phí:
Bị cáo Trần Xuân Đ và bị cáo Nguyễn Văn Q bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
7
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Tuyên bố bị cáo Trần Xuân Đ và bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Trần Xuân Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29-01-2024.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29-01-2024.
- Xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy số ma tuý; 01 đĩa sứ; 01 thẻ Ngân hàng V2 mang tên Nguyễn Văn Q; 02 mẫu nước tiểu có trong 3 phong bì hoàn trả mẫu vật gửi giám định số 417/KL-KTHS; tịch thu tiêu huỷ 01 bật lửa ga màu đỏ (đã hết ga) và 01 vỏ túi nilong màu trắng kích thước khoảng 6x9cm;
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen đã cũ của bị cáo Trần Xuân Đ và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo thu của bị cáo Nguyễn Văn Q;
- (Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08-05-2024 giữa Công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định)
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 20.000 đồng đã được gửi tại kho bạc theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08-5-2024.
- Án phí hình sự sơ thẩm:
- Bị cáo Trần Xuân Đ và bị cáo Nguyễn Văn Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng)
- Quyền kháng cáo:
- Bị cáo Trần Xuân Đ và bị cáo Nguyễn Văn Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Trần Xuân Đ và bị cáo Nguyễn Văn Q có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
8
|
Lương Thị Kim Huế |
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Lương Thị Kim Huế
9
10
11
Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 116/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Xuân Đức, Nguyễn Văn Quân phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
