|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 116/2024/HS-ST Ngày 19 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ninh Văn Trung;
- Ông Phạm Văn Chữ.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ca - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Thành Đạt, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2024/HSST ngày 24/8/2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115a/2024/HSST- QĐ ngày 30/8/2024 đối với bị cáo:
Lê Thành L, sinh ngày 02/03/2006; Tên gọi khác: Không; S, trú quán: thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: Lớp 09/12; Bố đẻ: Lê Văn T; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T1; Vợ, con chưa; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú, hiện tại ngoại “có mặt”.
* Người bào chữa cho bị cáo Lê Thành L: Ông Thân Văn L1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B “có mặt”.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
- Trần Thế V, sinh ngày 19/8/2005 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Dương Văn T2, sinh ngày 19/10/2005 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Dương Hải N, sinh ngày 31/01/2006 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Vũ Văn D, sinh năm 1999 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Phạm Văn N1, sinh năm 2001 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Vũ Văn Q, sinh năm 2002 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Nguyễn Đức Đ, sinh ngày 31/7/2004 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Nguyễn Văn H, sinh năm 2004 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Nguyễn Chính V1, sinh ngày 04/03/2005 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Nguyễn Hồng P, sinh ngày 07/10/2005 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn R, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Bùi Khải V2, sinh năm 2003 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn A, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Nguyễn Văn P1, sinh ngày 18/3/2006 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn Tranh, xã Vô Tranh, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. - Mạc Đình Việt, sinh ngày 09/12/2005 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Nguyễn Minh H1, sinh ngày 19/8/2005 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Vũ Trường X, sinh ngày 20/8/2004 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Hồ Văn T3, sinh ngày 15/9/2007 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn B, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo pháp luật của anh Hồ Văn T3: Bà Hạng Thị M, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn B, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang “vắng mặt”.
- Dương Văn H2, sinh ngày 14/01/2008 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo pháp luật của anh Dương Văn H2: Ông Dương Văn C, sinh năm 1987 và bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang “vắng mặt”.
- Phạm Minh K, sinh ngày 27/11/2007 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn A, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo pháp luật của anh Phạm Minh K: Ông Phạm Thế H3, sinh năm 1982 và bà Ngô Thị T4, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn A, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang “vắng mặt”.
- Trần Văn H4, sinh ngày 15/6/2007 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn B, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo pháp luật của anh Trần Văn H4: Ông Trần Văn H5, sinh năm 1979 và bà Lại Thị X1, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn B, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang “vắng mặt”.
- Lê Văn T, sinh năm 1974 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Bế Trương P2, sinh ngày 08/11/2005 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Lã Hiểu P3, sinh ngày 13/02/2006 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Phạm Ngọc T5, sinh ngày 13/01/2006 “vắng mặt".
Địa chỉ: Tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Anh Trần Văn L3, sinh năm 1976 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Chị Phạm Thị N2, sinh năm 1964 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Anh Vũ Xuân T6, sinh năm 1984 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1976 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn R, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Chị Đặng Trà M1, sinh năm 2002 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn K, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang - Anh Dương Văn C, sinh năm 1987 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Anh Trần Văn H5, sinh năm 1979 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn B, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Ông Lê Văn T, sinh năm 1974 “có mặt”.
Địa chỉ: Thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 25/02/2023 Trần Thế V, sinh ngày 19/8/2005, trú tại thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave biển kiểm soát 98E1-535.46 chở Dương Văn T2, sinh ngày 19/10/2005, trú tại thôn N, xã M, huyện L đi chơi tại khu vực Quảng trường thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tại đây, V và T2 có gặp Chu Hùng A, sinh năm 2005, trú tại xã T, huyện L (là bạn của V) nên V, T2 ngồi chơi nói chuyện cùng với Hùng A. Lúc này Lã Hiểu P3, sinh ngày 13/02/2006, trú tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang đi qua và nói “Đánh nhau đi”, đồng thời nhổ nước bọt vào Dương Văn T2 rồi P3 dùng tay phải nắm cổ T2 và tiếp tục có nói lời thách thức đánh nhau. Sau đó được mọi người can ngăn nên hai bên giải tán, V chở T2 đi đến khu vực ngã tư truyền hình thị trấn C thì cả hai vào quán uống nước. Lúc này Lã Hiểu P3 đi theo đến và đấm 01 nhát vào gáy của V rồi P3 bỏ về. Còn V chở T2 đi về khu vực cầu N thuộc địa phận thôn T, xã N thì T2 sử dụng tài khoản Facebook "Tú D1" liên lạc đến tài khoản M2 mang tên “Nguyễn Chính V1” của Nguyễn Chính V1, sinh ngày 04/03/2005, trú tại thôn Đ, xã V, huyện L bảo V1 sang đón T2 và V về do bị nhóm của Lã Hiểu P3 đánh. Khi đó, V1 đang ngồi chơi với Nguyễn Văn P1, sinh ngày 18/03/2006, trú tại thôn T, xã V, huyện L và Phạm Minh
K, sinh ngày 27/11/2007, trú tại thôn A, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang tại nhà V1 nên V1 đã rủ K và P1 đi cùng thì K và P1 đồng ý. Sau đó V1 mang theo 01 con dao phóng lợn (loại dao nhọn có hàn cán bằng kim loại), dao có đường kính 20cm, rộng khoảng 05cm, gắn thanh tuýp sắt dài khoảng 1,2m, đường kính 21mm và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave, không có biển kiểm soát chở P1, K đến khu vực cầu N để đón T2 và V. Sau khi gặp T2 và V, cả nhóm đã cùng nhau đi lên quảng trường thị trấn C tìm P3 để đánh nhau tuy nhiên không tìm thấy. Còn Lã Hiểu P3 sau khi đánh T2 xong, trên đường về P3 đã sử dụng tài khoản Facebook mang tên “Chu Hùng A” của Chu Hùng A liên lạc qua ứng dụng Messenger đến tài khoản tên “Tú D1" của T2 thách thức đánh nhau. Hai bên thống nhất hẹn tối ngày 26/02/2023 sẽ gặp nhau tại khu vực cầu C mới thuộc tỉnh lộ 289, địa phận thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang để đánh nhau. Ngày 26/02/2023 Trần Thế V nhắn tin đến tài khoản Facebook của Lã Hiểu P3 với nội dung “Để tao xem thằng nào mặc giáp”. Sau đó Trần Thế V và Dương Văn T2 và đã nhắn tin qua ứng dụng M2 đến nhóm “AE MÌNH” gồm: Dương Hải N, sinh ngày 31/01/2006, trú tại: thôn T, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Văn H, sinh năm 2004, trú tại: thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Lê Thành L, sinh ngày 02/3/2006, trú tại: thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Phạm Văn N1, sinh ngày 28/5/2001, trú tại: thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Vũ Văn Q, sinh ngày 12/10/2002, thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang rủ đi đánh nhau. Sau khi nhận được tin nhắn trong nhóm thì Dương Hải N tiếp tục bảo Nguyễn Văn H; Vũ Văn Q nhắn tin cho Lê Thành L và Vũ Văn D, sinh ngày 11/02/1999, trú tại: thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang đi đánh nhau giải quyết mâu thuẫn hộ V và T2. Sau đó Dương Văn T2 tiếp tục rủ thêm Nguyễn Hồng P, sinh ngày 07/10/2005, trú tại: thôn R, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Mạc Đình V3, sinh ngày 09/12/2005, trú tại: thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Chính V1, sinh ngày 04/3/2005, trú tại: thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Văn P1, sinh ngày 18/3/2006, trú tại: thôn T, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Vũ Văn Q và Nguyễn Đức Đ, sinh ngày 31/7/2004, trú tại: thôn, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang đi đánh nhau đồng thời T2 nhờ Vũ Văn Q chế cho một con dao phóng lợn (loại dao nhọn có hàn cán bằng kim loại) để mang đi đánh nhau. Sau khi được T2 rủ Nguyễn Đức Đ rủ thêm Bùi Khải V2, sinh ngày 16/7/2003, trú tại: thôn A, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Chính V1 nhắn tin rủ Vũ Trường X, sinh ngày 20/8/2004, trú tại: thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Minh H1, sinh ngày 19/8/2005, trú tại: thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Dương Văn H2, sinh ngày 14/01/2008, trú tại: thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Phạm Minh K, sinh ngày 27/11/2007, trú tại: thôn A, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Trần Văn H4, sinh 15/6/2007, trú tại: thôn B, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang và Hồ Văn T3, sinh ngày 15/9/2007, trú tại: thôn B, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang đi đánh nhau. Cả nhóm thống nhất tối ngày 26/02/2023 tập chung ở cổng trường THCS xã M để đi đánh nhau. Theo như đã hẹn, khoảng 20 giờ
30 phút ngày 26/02/2023 tất cả tập hợp tại trường THCS xã M, cụ thể: V2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave biển kiểm soát 98E1-535.46 chở Dương Văn T2 đến; Dương Hải N điều khiển xe mô tô không gắn biển số (của Dương Văn T2) đón Nguyễn Văn H đến; Lê Thành L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98AB-020.46 màu trắng đến và mang theo 01 con dao phay bằng kim loại, chuôi dài 10cm, lưỡi dao dài khoảng 20cm, một mặt sắc, sống dao tù; Vũ Văn D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave biển kiểm soát 98B3-837.44 đón Vũ Văn Q đến; Phạm Văn N1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B2-706.05 đi một mình đến; Nguyễn Hồng P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave biển kiểm soát 98F1-367.66 và mang theo 02 gậy kim loại (gồm 01 gậy dài khoảng gần 01m và 01 gậy dài khoảng gần 02m) đi đến điểm hẹn. Trên đường đi P gặp Bế Trương P4, sinh ngày 08/11/2005, trú tại: thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang, P rủ P4 đi đánh nhau, P4 đồng ý điều khiển xe mô tô một mình đi theo và không mang theo hung khí gì; Bùi Khải V2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave biển kiểm soát 98F1-420.85 chở Nguyễn Đức Đ mang theo 01 thanh đao dài khoảng 01m đến; Vũ Trường X điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98F1-365.36 đón Nguyễn Minh H1 đến; Nguyễn Văn P1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98F1-148.13 và mang theo 01 lưỡi dao nhọn dài khoảng 20cm, không gắn cán đón Nguyễn Chính V1 đi đến điểm hẹn, trên đường đi đến ngã ba G, xã V, huyện L thì P1 gửi xe mô tô tại đây và lên xe mô tô của một thanh niên trong nhóm (P1 không biết tên) đi đến cổng trường THCS xã M; Phạm Minh K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda không gắn biển kiểm soát đến điểm hẹn; Dương Văn H2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Lead màu đen không nhớ biển kiểm soát, không mang theo hung khí gì đi đến ngã ba G, xã V, huyện L đón Nguyễn Chính V1 đến cổng trường THCS xã M; Trần Văn H4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Future màu đỏ đen biển kiểm soát 98B3-164.72 đón Hồ Văn T3 đến cổng trường THCS xã M.
Tại cổng trường THCS xã M, Nguyễn Hồng P đưa cho Trần Thế V 01 tuýp sắt dài gần 01m sau đó V đưa cho Nguyễn Văn H cầm. Còn Dương Hải N điều khiển xe mô tô đến bờ rào của gia đình anh Vũ Văn Q tại thôn A, xã M để lấy 01 con dao phóng lợn (loại dao nhọn có hàn cán bằng tuýp sắt dài 2m) rồi quay lại cổng trường THCS xã M đưa con dao phóng lợn cho một người một người trong nhóm Lục N3 (do trời tối đông người Nam không nhớ rõ là ai). Còn Vũ Văn D chở Vũ Văn Q đi lấy 01 phóng lợn được cất giấu tại thôn N, xã M (chỗ Q làm việc); Nguyễn Đức Đ cầm theo 01 thanh đao dài gần 01m; Phạm Minh K được 01 nam thanh niên trong nhóm đưa cho 01 chiếc phóng lợn dài khoảng 02m rồi K lên xe của Dương Văn H2 điều khiển. Tất cả xuất phát đi đến cầu C mới để đánh nhau. Khi đi thì P chở Nguyễn Đức Đ cầm theo 01 thanh đao dài gần 01m, đến ngã ba thôn B, xã N thì P và Đ đi đón Mạc Đình V3. Trên đường đi thì Đảng đưa cho V3 01 thanh kim loại dài khoảng 02m; Dương Hải N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave không rõ biển kiểm soát do
T2 mượn và điều khiển xe đi đến địa phận ngã ba thôn Đ thuộc xã T thì chở Nguyễn Chính V1; Nguyễn Văn H sang xe mô tô của nam thanh niên không quen biết ngồi và cầm 01 gậy kim loại màu đen dài 01m do Trần Thế V đưa cho; Vũ Văn D điều khiển xe mô tô chở Vũ Văn Q đi đến ngã ba B thì Q đi sang xe mô tô của Phạm Văn N1 và đưa cho N1 01 con dao phóng lợn có hàn cán dài khoảng 02m màu trắng, còn D điều khiển xe mô tô chở 01 nam thanh niên ở xã V; Bùi Khải V2 điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Văn H cầm theo 01 tuýp sắt dài khoảng 01m. Tại ngã ba thôn Đ, xã T thì Nguyễn Chính V1 sang xe mô tô nhãn hiệu Honda không gắn biển kiểm soát của Phạm Minh K do bạn của T2 điều khiển; Vũ Trường X điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98F1-365.36 đến đón Nguyễn Minh H1, sau đó H1 điều khiển xe mô tô chở X nhập cùng nhóm ở khu vực ngã ba B, xã N, tại đây H1 nhặt một viên đá đưa cho X ngồi sau để mang đi đánh nhau; Vũ Văn D điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Văn P1 đi đến cầu C để đánh nhau. Bế Trương P4 vẫn điều khiển xe mô tô một mình đi theo và không cầm theo hung khí gì. Trần Văn H4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Future màu đỏ đen biển kiểm soát 98B3-164.72 đón Hồ Văn T3, khi đi Hợi không mang theo hung khí gì.
Khi đi đến địa phận cầu C thì H đưa gậy kim loại cho nam thanh niên điều khiển chở H cầm; Lê Thành L đưa 01 con dao phay bằng kim loại, chuôi dài 10cm, lưỡi dao dài khoảng 20cm, một mặt sắc, sống dao tù cho Dương Hải N cầm; Nguyễn Chính V1 được Phạm Minh K đưa cho cầm 01 phóng lợn có hàn cán dài; Nguyễn Văn P1 có nhặt một nửa viên gạch màu đỏ hình vuông cầm ở tay; Trần Văn H4 nhặt 02 viên đá rồi để tại gác ba ga xe mô tô và Hồ Văn T3 nhặt 01 viên gạch hình chữ nhật màu đỏ để ở cạnh xe để đánh nhau. Các đối tượng tụ tập tại khu vực cầu C thuộc tuyến đường tỉnh lộ 289, địa phận thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang để chờ nhóm của P3 đến đánh nhau. Tuy nhiên khi đang chờ nhóm của P3 đến thì bị Công an xã N phát hiện, ngăn chặn. Các đối tượng đã bỏ chạy, công an khống chế bắt giữ được Dương Văn H2, Bùi Khải V2, Trần Thế V, Nguyễn Đức Đ. Thu giữ tại hiện trường 02 dao nhọn (dạng phóng lợn), 01 dao kiếm, 02 gậy sắt, 06 viên đá và 06 xe mô tô các loại (gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu đỏ biển kiểm soát 98B2-706.05; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave 125i màu xanh biển kiểm soát 98E1-535.46; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Future màu đỏ đen biển kiểm soát 98B3-164.57; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Lead màu đen biển kiểm soát 98F1-380.73; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu đen biển kiểm soát 98B3-837.44; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu đen biển kiểm soát 98F1-420.85). Cùng ngày Công an xã N tiến hành xác định hiện trường nơi xảy ra sự việc. Ngày 05/03/2023 Công an xã N đã chuyển hồ sơ cùng tài liệu đến Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 27/02/2023 Trần Thế V giao nộp cho cơ quan điều tra 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đã qua sử dụng.
Ngày 13/5/2023 và ngày 13/6/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho Trần Thế V, Dương Văn T2 nhận dạng qua bản ảnh đối với Lã Hiểu P3; cho Lã Hiểu P3 nhận dạng qua ảnh đối với Trần Thế V, Dương Văn T2. Kết quả: Văn nhận ra người tại ảnh số 04 là Lã Hiểu P3; P3 nhận ra người tại ảnh số 02 là Trần Thế V, người tại ảnh số 03 là Dương Văn T2; Dương Văn T2 nhận ra người tại ảnh số 02 là Lã Hiểu P.
Ngày 20/5/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho Vũ Văn Q, Nguyễn Văn P1, Dương Hải N, Nguyễn Hồng P, Nguyễn Văn H xác định qua bản ảnh đối với các hung khí gồm dao, gạch, đá, tuýp sắt đã thu giữ tại hiện trường. Kết quả: Vũ Văn Q xác định con dao phóng lợn tại ảnh số 05 là con dao của Q cầm để đi đánh nhau; Nguyễn Văn P1 xác định viên gạch tại ảnh số 06 là viên gạch của P1 cầm theo để đi đánh nhau; Dương Hải N xác định con dao phóng lợn tại ảnh số 04 là con dao Nam cầm để đi đánh nhau; Nguyễn Hồng P xác định chiếc tuýp sắt tại ảnh số 02 là chiếc tuýp sắt P cầm để đi đánh nhau; Nguyễn Văn H xác định chiếc tuýp sắt tại ảnh số 01 là chiếc tuýp sắt mà Trần Thế V đưa cho H cầm để đi đánh nhau.
Đối với số một số hung khí còn lại gồm gạch, đá, dao...các bị cáo khai khi bị phát hiện bỏ chạy đã vứt đi, nhưng không nhớ vứt ở vị trí nào nên cơ quan điều tra không thu giữ được.
Ngày 29/7/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn ban hành Cáo trạng số 97 ngày 29/7/2023 truy tố Dương Văn T2, Trần Thế V, Nguyễn Chính V1, Nguyễn Đức Đ, Vũ Văn D, Nguyễn Minh H1, Vũ Văn Q, Vũ Trường X, Nguyễn Văn H, Nguyễn Hồng P, Bùi Khải V2, Dương Hải N, Lê Thành L, Mạc Đình V3, Nguyễn Văn P1, Phạm Văn N1 về tội Cố ý gây thương tích quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Quá trình truy tố, xác minh bị cáo Lê Thành L bỏ trốn khỏi địa phương không rõ đi đâu làm gì với ai. Ngày 20/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã Quyết định truy nã đối với Lê Thành L sinh năm 2006 trú tại thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Ngày 31/7/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn ban hành Cáo trạng số 102 ngày 31/7/2023 truy tố Dương Văn T2, Trần Thế V, Nguyễn Chính V1, Nguyễn Đức Đ, Vũ Văn D, Nguyễn Minh H1, Vũ Văn Q, Vũ Trường X, Nguyễn Văn H, Nguyễn Hồng P, Bùi Khải V2, Dương Hải N, Mạc Đình V3, Nguyễn Văn P1, Phạm Văn N1 theo quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự và chuyển hồ sơ đến Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn để xét xử theo quy định pháp luật. Ngày 26/10/2023 Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử các bị cáo tại Bản án số 131/2023/HSST ngày 26/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn (bản án đã có hiệu lực pháp luật).
Hồi 09 giờ 30 phút ngày 03/8/2024 Lê Thành L đến Công an cửa khẩu hàng không quốc tế T7 đầu thú khai nhận hành vi của bản thân và đồng phạm xảy ra ngày 26/02/2023 tại thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định đình nã đối với Lê Thành L.
Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo Lê Thành L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo không có ý kiến gì đối với nội dung bản cáo trạng cũng như bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên toà, Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người này trong quá trình điều tra. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa không có ý kiến gì về lời khai của những người này.
Bản cáo trạng số 114/CT-VKS ngày 23/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Lê Thành L về tội “Cố ý gây thương tích" theo khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào khoản 6 Điều 134; Điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91, Điều 98, Điều 101 Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thành L từ 07 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Cố ý gây thương tích”. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Ngoài ra còn đề xuất về án phí.
Ý kiến tranh luận của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí về tội danh, điều luật áp dụng mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị; tuy nhiên cho rằng mức hình phạt đề nghị đối với bị cáo là cao vì cùng tính chất mức độ, vai trò như bị cáo Lê Thành L, tại Bản án Tòa án huyện L xét xử các bị cáo đều từ 05 đến 06 tháng tù cho hưởng án treo, vậy đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo L được hưởng mức hình phạt từ 05 đến 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Cố ý gây thương tích".
*Quan điểm đối đáp của đại diện Viện kiểm sát: Khi đề nghị mức hình phạt với bị cáo Lê Thành L, đại diện Viện kiểm sát đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo đúng quy định pháp luật; Xét về tính chất mức độ, vai trò của bị cáo Lê Thành L, bị cáo L là người tích cực chuẩn bị vũ khí tham gia đánh nhau nhưng sau đến địa điểm hẹn bị cáo lại đưa vũ khí cho người khác, vì vậy bị cáo có cùng vai trò với Nguyễn Đức Đ, Nguyễn Hồng P, Nguyễn Văn P1, Dương Hải N, Vũ Văn D, Vũ Văn Q, mà tại Bản án đã xét xử trước các bị cáo này đều bị tuyên mức hình phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo không phải mức từ 05 đến 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo như quan điểm của người bào chữa. Do bị cáo L đầu thú được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo L được hưởng mức hình phạt từ 07 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Vậy Viện kiểm sát cho rằng mức hình phạt đề nghị là phù hợp, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên mức hình phạt đề nghị đối với bị cáo L.
Lời nói sau cùng: Bị cáo Lê Thành L mong muốn Hội đồng xét xử giảm mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đương sự không có người nào có ý kiến hoạc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định có tội của bị cáo:
Tại phiên toà bị cáo Lê Thành L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:
Buổi tối ngày 25/02/2023 giữa Dương Văn T2 và Trần Thế V xảy ra mâu thuẫn với Lã Hiểu P3 nên T2 và P3 đã nhắn tin thống nhất tối ngày 26/02/2023 gặp nhau tại khu vực cầu C mới thuộc địa phận thôn T, xã N, huyện L để đánh nhau giải quyết mâu thuẫn. Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 26/02/2023 Dương Văn T2, Trần Thế V đã rủ Nguyễn Chính V1, Nguyễn Đức Đ, Vũ Văn D, Nguyễn Minh H1, Vũ Văn Q, Vũ Trường X, Nguyễn Văn H, Nguyễn Hồng P, Bùi Khải V2, Dương Hải N, Lê Thành L, Mạc Đình V3, Nguyễn Văn P1, Phạm Văn N1 mang theo hung khí gồm dao, tuýp sắt, gậy, gạch, đá... đến điểm hẹn để đánh P3 thì bị Công an xã N, huyện L phát hiện ngăn chặn kịp thời. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.
[3] Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đến Công an đầu
thú nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tuy chưa gây thương tích đối với ai nhưng có thể xâm hại trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của người khác, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này tuy bị cáo bị truy nã nhưng sau đó đã ra đầu thú. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng quy định đối với người dưới 18 tuổi theo quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Bị cáo Lê Thành L có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, trong vụ án bị cáo không phải là người rủ rê, khởi xướng chỉ giữ vai trò thứ yếu; Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú rõ ràng, luôn chấp hành mọi chính sách ở địa phương; xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội nên không cần phải bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung và theo đúng quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Xét mức hình phạt theo lập luận, đề nghị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp, không chấp nhận mức hình phạt đề nghị của người bào chữa cho bị cáo.
[4] Các vấn đề khác: Ông Lê Văn T cho Lê Thành L mượn xe mô tô thì những người nêu trên không biết các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý đối với những người này là có căn cứ.
Đối với Bế Trương P4, sinh ngày 08/11/2005 trú tại thôn Đ, xã V, huyện L. Tối ngày 26/02/2023 trên đường đi chơi P4 gặp Nguyễn Hồng P, được P rủ đi đánh nhau. P4 đồng ý và điều khiển xe mô tô đi một mình, không mang theo hung khí gì, khi đi đến khu vực cầu C thì P4 đứng đó một lúc rồi bỏ về trước. Do đó hành vi của P4 chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Ngày 28/6/2023 Công an huyện L đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Bế T về hành vi tham gia tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng với số tiền 750.000 đồng là có căn cứ.
Đối với Lã Hiểu P3, sinh ngày 13/02/2006 trú tại thôn K, xã H, huyện L. Tối ngày 25/02/2023 P3 có sử dụng tay bóp cổ, nhổ nước bọt vào Dương Văn T2 và đấm 01 nhát vào gáy của Trần Thế V tuy nhiên quá trình điều tra T2, V không có yêu cầu đề nghị gì. Do đó hành vi của P3 chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 28/6/2023 Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lã Hiểu P3 về hành vi “Cố ý gây thương tích” với số tiền 3.250.000 đồng là có căn cứ.
Đối với Phạm Minh K sinh ngày 27/11/2007, trú tại thôn A, xã V, huyện L; Trần Văn H4 sinh ngày 15/6/2007, trú tại thôn B, xã V, huyện L; Hồ Văn T3, sinh ngày 15/9/2007, trú tại thôn B, xã V, huyện L; Dương Văn H2, sinh ngày 14/01/2008, trú tại thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang có hành vi tham gia cùng các bị can mang theo hung khí để đi đánh nhau. Tuy nhiên tại thời điểm xảy ra sự việc K mới 15 tuổi 02 tháng 30 ngày; H4 mới 15 tuổi 08 tháng 11 ngày; T3 mới 15 tuổi 05 tháng 11 ngày; H2 mới 15 tuổi 01 tháng 12 ngày, đều chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Ngày 28/6/2023 Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Minh K, Trần Văn H4, Hồ Văn T3, Dương Văn H2 về hành vi “Tham gia tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng” bằng hình thức Cảnh cáo là có căn cứ.
[5] Về xử lý vật chứng: Các vật chứng của vụ án đã được giải quyết tại Bản án số 131/2023/HSST ngày 26/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 6 Điều 134; Điều 17; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65; Điều 91, Điều 98 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Thành L 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Cố ý gây thương tích".
Giao bị cáo Lê Thành L cho UBND xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách của án treo bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
2. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Thành L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
Án xử công khai sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Linh |
Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG về cố ý gây thương tích (khoản 6 điều 134 bộ luật hình sự)
- Số bản án: 116/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử sơ thẩm
