Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 116/2024/HS-ST

Ngày 19 - 7 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phượng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Đức

Bà Nguyễn Thị Thu Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Lương Duy Hiển - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Vũ Văn G, sinh ngày 20/9/1986, tại Thái Bình;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn A Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Xuân O, sinh năm 1961 và bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1962; vợ: Dương Thùy L (đã ly hôn); con: Có 01 con, sinh năm 2014; tiền sự: Không;

Tiền án: Bản án số 206/2014/HSST ngày 19/9/2014 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/12/2015, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 20/11/2014.

Ngày 18/7/2017 phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Trộm cắp tài sản” bị Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt chung hai tội 07 năm tù (Bản án số 04/2018/HSST ngày 04/01/2018). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/6/2023.

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Bản án số 218/2005/HSST ngày 22/12/2005 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/12/2005, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 24/5/2006; Quyết định số 549/QĐ-UBND ngày 04/9/2008 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục S, B, Hà Nội vì nhiều lần trộm cắp tài sản (chưa chấp hành); Bản án số 93/2009/HSST ngày 27/4/2009 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/10/2011, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 24/9/2009.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 18/3/2024 đến ngày 24/3/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

(Bị cáo trích xuất có mặt tại phiên tòa).

Người chứng kiến:

  • + Anh Dương Ngọc H1, sinh năm 1985
  • Trú tại: Số nhà A, ngõ C, đường L, tổ E, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình
  • + Ông Lê Xuân T, sinh năm 1962
  • Trú tại: Số nhà 10, ngõ 64, đường Bùi Sỹ Tiêm, tổ 15, phường Tiền Phong, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

(Anh H1, ông T đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 18/3/2024, Vũ Văn G là người đã tái phạm, chưa được xóa án tích đi xe buýt từ nhà đến khu vực Bệnh viện mắt tỉnh T, thuộc tổ A, phường T, thành phố T xuống xe đi bộ một đoạn thì gặp và mua của một người nam giới khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng, Sau đó G cầm gói Heroine ở lòng bàn tay trái rồi đi bộ tìm chỗ để sử dụng. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày khi G đi đến khu vực tổ A, phường T, thành phố T thì bị tổ công tác Công an thành phố T phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Dương Ngọc H1 và ông Lê Xuân T, G đã tự giác đưa từ lòng bàn tay trái giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là H2 của G vừa mua về để sử dụng cho bản thân, tổ công tác đã niêm phong vật chứng gửi đi giám định. Sau đó tổ công tác yêu cầu G và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an phường T, thành phố T để làm việc. Tại đây, tổ công tác kiểm tra người Giáp đã thu giữ tại túi quần bên phải 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh (đã cũ). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định.

Tại Kết luận giám định số 389/KL-KTHS ngày 22/3/2024 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh T kết luận: Mẫu vật quản lý của Vũ Văn G gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,1455 gam (Không phẩy một nghìn bốn trăm năm mươi lăm gam).Heroin STT: 09 Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Vũ Văn G cũng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trong bản Cáo trạng.

Bản cáo trạng số 121/CT-VKSTPTB ngày 24/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Vũ Văn G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Vũ Văn G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm tù; đề nghị phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như nôi dung Cao trang và phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người chứng kiến có trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau:

  • - Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an thành phố T lập ngày 15/12/2023 tại trụ sở Công an phường T, thành phố T (bút lục số 03 - 04; 35 - 36).
  • - Kết luận giám định số 389/KL-KTHS ngày 22/3/2024 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh T (bút lục số 39)

Cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 18/3/2024, tại khu vực đường T, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Vũ Văn G là người đã tái phạm, chưa được xóa án tích, có hành vi tàng trữ trái phép trên người 0,1455 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân, bị tổ công tác Công an thành phố T phát hiện bắt quả tang.

Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
  • Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;
  • Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

................................

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

  • Có tổ chức;
  • Phạm tội 02 lần trở lên;
  • Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

  • Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

................................

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

  • Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".

Việc Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố và kết luận bị cáo Vũ Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy : Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hôi, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự và an toàn xã hội tai đia phương. Mặc dù đông cơ pham tôi xuất phát từ việc nghiên chất ma túy, mục đích để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, nhưng tệ nạn ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, không những gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của ma túy, đã từng bị kết án về tội phạm ma túy và tội phạm khác, song không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân mà vẫn thực hiện hành vi tàng trữ ma túy là thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc lọai tội rất nghiêm trọng, vì vậy bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi bi cao đa gây ra.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự : Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị Tòa án kết án và áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tai phiên tòa bị cáo đã khai báo trung thực toàn bộ hành vi pham tôi, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người pham tôi thành khẩn khai báo” theo quy đinh tai điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đa phân tích trên thấy cần thiết phải ap dung hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định như mức đề nghị của đai dịên Vịên kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp , nhằm cải tao, giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh, ngăn ngừa tội phạm về ma túy nói chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên cần áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của một người nam giới khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ tại khu vực Bệnh viện M tỉnh Thái Bình, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,1455 gam ma túy, loại Heroine thu giữ của Vũ Văn G, sau khi lấy mẫu giám định còn 0,0842 gam và toàn bộ bao gói trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 389/KL- KTHS của Phòng K Công an tỉnh T. Xét thấy đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, do đó cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh (đã cũ) thu giữ của bị cáo, kết quả điều tra xác định bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm o khoản 2, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Vũ Văn G 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 18/03/2024.
  3. Phạt bổ sung bị cáo Vũ Văn G 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.

  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định: 0,0842 gam (không phẩy không nghìn tám trăm bốn mươi hai gam) và toàn bộ bao gói trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 389/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T
  5. Trả lại bị cáo Vũ Văn G 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh (đã cũ).

    (Vật chứng trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình lập hồi 14 giờ 30 phút ngày 27/6/2024).

  6. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Vũ Văn G phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự, bị cáo Vũ Văn G có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/7/2024)./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thành phố Thái Bình;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan CSĐT CA thành phố Thái Bình;
  • - Cơ quan THAHS CA thành phố Thái Bình;
  • - Sở Tư pháp Thái Bình;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS thành phố Thái Bình;
  • - UBND xã Thụy Phong, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 116/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger