|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 116/2024/HS-ST Ngày: 18/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Trọng Danh
Thẩm phán: Ông Trần Minh Long
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Minh Phượng
Bà Võ Thị Yến Lan
Bà Nguyễn Thị Hồng Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Na – Thư ký TAND TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Lựu - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên toà để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2024/TLST-HS ngày 7 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Hồ Quang H, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 01/04/1984 tại Quảng Nam; nơi thường trú: Thôn X, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: 4 T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Con ông: Hồ Quang T (Sinh năm: 1950); con bà: Võ Thị Kim C (Sinh năm: 1957); Gia đình có 03 anh chị em. Bị can là con thứ 2; có vợ là Phạm Thị P (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2014; Tiền án: ngày 29/9/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam tuyên phạt 2 năm tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 139 BLHS năm 1999, H chưa chấp hành phần trách nhiệm dân sự trong vụ án nên chưa được xóa án tích; tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/11/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ. Có mặt tại phiên tòa.
*Người bào chữa cho bị cáo Hồ Quang H: Ông Phạm Văn N, Luật sư Chi nhánh công ty L, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ. Có mặt
* Bị hại: Bà Lê Thị T1, sinh năm 1989 và ông Trần Trọng N1, sinh năm 1988; Cùng trú tại: H Y, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. Bà T1 có mặt, ông N1 có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 9/2023, Hồ Quang H quen biết với chị Lê Thị T1 (sinh năm 1989; trú tại H Y, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng) vì làm cùng công ry Bất động sản. Thời điểm này, H cần tiền trả nợ nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của chị T1. H dùng tài khoản Facebook “Hồ Quang H” tìm kiếm trang “Làm giả giấy tờ” lấy số điện thoại và kết bạn Z đặt làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Hồ Quang H số CX838512, địa chỉ thửa đất làm giả tại thôn A, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng giá 1.000.000 đồng. Người làm chụp hình gửi Giấy chứng nhận qua Zalo cho H, hình ảnh Giấy chứng nhận này H đưa cho chị T1 xem, H muốn bán thửa đất này cho vợ chồng chị T1 giá 700.000.000 đồng, H dẫn chị T1 đi xem thửa đất để tạo niềm tin nhưng thực tế thửa đất không phải của H, chị T1 nghĩ H có thửa đất thật nên đồng ý mua. Ngày 20/9/2023, H và chị T1 làm hợp đồng đặt cọc mua bán thửa đất, chị T1 đặt cọc trước cho H 100.000.000 đồng. Đầu tháng 10/2023, H nói với chị T1 để giảm bớt chi phí trong thủ tục sang tên quyền sử dụng đất, H làm Hợp đồng tặng cho thửa đất cho vợ chồng chị T1, chị T1 đồng ý ký, lăn tay xác nhận (Hợp đồng này H đã hủy). Để có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giao cho chị T1, Hiếu chủ động lên mạng liên hệ, cung cấp dữ liệu và thông tin về đặc điểm tài sản, thông tin về nhân thân của người đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Trần Trọng N1 và Lê Thị T1, địa chỉ thửa đất tại thôn A, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng để đặt làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 921543 có đóng hình dấu tròn giả Sở tài nguyên và môi trường thành phố Đ với giá 5.000.000 đồng. Sau khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, ngày 6/10/2023, H đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho vợ chồng chị T1, anh N1, anh N1 tiếp tục chuyển cho H số tiền 250.000.000 đồng từ số tài khoản 1013710292 Ngân hàng M của anh N1 đến tài khoản số: 1013710292 Ngân hàng V mang tên Hồ Quang H. Đến giữa tháng 10/2023 chị T1 đưa thêm cho H 100.000.000 đồng, ngày 30/10/2023 chị T1 tiếp tục đưa cho H 100.000.000 đồng. H đã nhận của chị T1 tổng công số tiền 550.000.000 đồng, số tiền 150.000.000 đồng còn lại chị T1 hẹn đến ngày 30/11/2023 sẽ đưa cho H. Nghi ngờ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CX921543 là giả, ngày 3/11/2023 chị T1 đến văn phòng đăng ký đất đai huyện H kiểm tra thì được biết Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giả. Ngày 27/11/2023, H đến quán C1 số DL, phường T, quận S nhận thêm số tiền 20.000.000
đồng của chị T1 bị bị Công an bắt quả tang. Số tiền chiếm đoạt được Hồ Quang H trả nợ cho một số đối tượng không xác định và tiêu xài cá nhân hết.
Tang vật tạm giữ:
- Tiền ngân hàng N2 20.000.000 đồng.
- 01 giấy nhận tiền ngày 27/11/2023 có chữ ký của Hồ Quang H.
- 01 hợp đồng đặt cọc ngày 20/9/2023.
- 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX921543 mang tên Trần Trọng N1 và Lê Thị Tuyết .
- 01 hình ảnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được in màu số CX 838512, mang tên Hồ Quang H.
Tại bản kết luận giám định số 33/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an thành phố Đ, kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX921543 mang tên Trần Trọng N1 và Lê Thị T1, ghi ngày 5/10/2023 là giả.
Đối với hình ảnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được in màu số CX 838512 mang tên Hồ Quang H. chỉ là bản sao chụp nên không giám định được.
Tại bản cáo trạng số 130/CT – VKS – P2 ngày 5/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Hồ Quang H về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Hồ Quang H về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” như cáo trạng đã nêu; đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Quang H mức án từ 12 năm đến 13 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ: điểm b khoản 3 Điều 341; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Quang H mức án từ 03 năm đến 04 năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Căn cứ điều 55 BLHS buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả 2 tội là 15-17 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị T1 và anh Trần Trọng N1 yêu cầu Hồ Quang H trả lại số tiền 550.000.000 đồng đã chiếm đoạt, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo H trả lại cho chị T1 và anh N1.
Về xử lý tang vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
- Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hồ quang H khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có tại hồ sơ vụ án; phù hợp với nội dung và kết luận của bản cáo trạng. Nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân, điều kiện hoàn cảnh gia đình, lần đầu vi phạm, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Quan điểm bào chữa của luật sư Phạm Văn N cho bị cáo: Không có ý kiến gì về các tội danh, điểm khoản Điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Luật sư đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết như: Bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn; ba bị cáo đang bị bệnh nặng; quá trình tố tụng bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo có thời gian công tác tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam và được tặng danh hiệu Lao động tiên tiến từ đó áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS, xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức án nhẹ nhất và nhẹ hơn mức án Viện kiểm sát đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Sau khi kiểm tra và đánh giá, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên là hợp pháp, đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo Hồ Quanh H1 trong quá trình điều tra và tại phiên toà; Lời khai của người bị hại; Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát; Luận cứ bào chữa của Luật sư; cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Từ tháng 9 đến 11/2023, Hồ Quang H cần tiền trả nợ nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị Lê Thị T1 và anh Trần Trọng N1. Thủ đoạn của Hiếu chủ đ lên mạng liên hệ, cung cấp dữ liệu và thông tin về đặc điểm tài sản, nhân thân và địa chỉ thửa đất để đặt làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 921543 mang tên Trần Trọng N1 và Lê Thị T1 có đóng hình dấu tròn giả Sở tài nguyên và môi trường thành phố Đ. Sau đó H sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả này bán cho vợ chồng anh Trần Trọng N1 và chị Lê Thị T1 với giá 700.000.000 đồng, chiếm đoạt được số tiền 570.000.000 đồng.
Hành vi trên của bị cáo Hồ Quang H đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự, để thực hiện tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”; như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, cùng lúc phạm 2 tội; không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn xâm phạm đến uy tín, hoạt động đúng đắn bình thường của Cơ quan nhà nước trong lĩnh vực quản lý đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quản lý con dấu giấy tờ tài liệu; ảnh hưởng rất xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại thành phố Đà Nẵng. Bị cáo hoàn toàn có khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, nhiều lần đưa ra thông tin gian dối và đặt làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực quản lý đất đai để chiếm đoạt của bị hại một số tiền lớn, đến nay mất hoàn toàn khả năng chi trả. Do vậy, đối với bị cáo cần phải xét xử nghiêm và có mức hình phạt tương xứng.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hồ Q H có 01 tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” chưa được xóa án tích do chưa thi hành phần trách nhiệm dân sự theo Bản án nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nên bị áp dụng thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo trong quá trình tố tụng đã thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn; ba bị cáo đang bị bệnh nặng; bị cáo có thời gian công tác tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam và được tặng danh hiệu Lao động tiên tiến đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, được HĐXX áp dụng để xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho vợ chồng bị hại Lê Thị T1 và anh Trần Trọng N1 số tiền là 550.000.000 (Năm trăm năm mươi triệu) đồng.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
- Tiền ngân hàng N2 20.000.000 đồng. Đã trả lại cho chị Lê Thị T1 nên Hội đồng xét xử không đề cập.
- 01 giấy nhận tiền ngày 27/11/2023 có chứ ký của Hồ Quang H; 01 hợp đồng đặt cọc ngày 20/9/2023; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX921543 mang tên Trần Trọng N1 và Lê Thị T1; 01 hình ảnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được in màu số CX 838512, mang tên Hồ Quang H, tài liệu này lưu tại hồ sơ vụ án nên tiếp tục lưu tại hồ sơ.
[8] Các vấn đề khác trong vụ án: Đối với người có hành vi làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX921543 không xác định được nên không đề cập xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí DSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Quang H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”;
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Hồ Quang Hiếu 13 (Mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
-Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Hồ Quang Hiếu 03 (Ba) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”;
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 BLHS: Tổng hợp hình phạt chung của cả 2 tội buộc bị cáo Hồ Quang H phải chấp hành là 16 (Mười sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 27/11/2023.
2.Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Hồ Quang H phải bồi thường cho chị Lê Thị T1 số tiền là 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị hại có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo Hồ Quang H không thực hiện nghĩa vụ bồi thường nêu trên thì còn phải chịu thêm khoản lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án:
- 01 giấy nhận tiền ngày 27/11/2023 có chứ ký của Hồ Quang H; 01 hợp đồng đặt cọc ngày 20/9/2023; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX921543 mang tên Trần Trọng N1 và Lê Thị T1; 01 hình ảnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được in màu số CX 838512, mang tên Hồ Quang H.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hồ Quang H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 26.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa thì có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Trọng Danh |
Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về vụ án hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 116/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Quang H
