TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 116/2024/HSST
Ngày:17/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hà Cẩm Hà
- Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thụy
- Ông Nguyễn Hà
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 17/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 06 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Đặng Trần T;
- Nguyễn Thị Thiên T2;
- Quảng Thị Thu H1;
Sinh ngày 02 tháng 11 năm 1988; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Nơi thường trú: Tổ A phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện tại: Số A ngách D Đ, phường C, quận B, thành phố Hà Nội; Họ và tên bố: Đặng Trần T1; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị L; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Bản án số 271/HSST ngày 28/12/2017, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, xử phạt 8 tháng tù, về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ra trại: 13/5/2018; Bị cáo bị bắt ngày: 01/9/2023; Có mặt tại phiên tòa.
Sinh ngày 03 tháng 03 năm 1997; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Nơi thường trú: Tổ dân phố C phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; Nơi ở hiện tại: Số A ngách D Đ, phường C, quận B, thành phố Hà Nội; Họ và tên bố: Nguyễn Văn T3; Họ và tên mẹ: Đỗ Thị T4; Chồng: Nguyễn Ngọc H; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt ngày 01/9/2023; Có mặt tại phiên tòa.
Sinh ngày 17 tháng 04 năm 1995; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Nơi thường trú: Khu phố A phường B, Thị xã B, tỉnh Quảng Bình; Nơi ở hiện tại: Số A ngách D Đ, phường C, quận B, thành phố Hà Nội; Họ và tên bố: Quảng Trung T5 (đã chết); Họ và tên mẹ: Hoàng Thị Kim C; Chồng: Ngô Văn H2 (đã ly hôn); Tiền án, tiền sự: Bản án số 378/HSST ngày 28/08/2019, Tòa án nhân dân Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xử phạt 15 tháng tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra trại: 17/6/2020. Nộp án phí HSST ngày 27/4/2020; Bị cáo bị bắt ngày 01/9/2023; Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Quảng Thị Thu H1 là ông Trương Công Đ- Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H; Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Đỗ Anh T6, sinh năm 1999; Trú tại: Số E Lô A T, quận H, thành phố Hà Nội; Vắng mạt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 30' ngày 01/09/2023, tổ công tác Đội CSĐTTP về TTXH - Công an quận T phối hợp với Công an phường C tiến hành kiểm tra hành chính nhà số A ngách D Đ, phường C, quận B, thành phooa Hà Nội đã phát hiện Đặng Trần T, Quảng Thị Thu H1, Nguyễn Thị Thiên T2, Đỗ Anh T6 có hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
Tổ công tác đã lập biên bản ghi nhận lại sự việc để tiếp tục làm rõ.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà số A ngách D Đ, phường C, quận B, thành phố Hà Nội phát hiện thu giữ:
- 01 (một) túi nilon chứa 200 viên nén màu vàng,
- 01 túi nilon chứa tinh thể trắng,
- 01 (một) túi nilon bên trong có chứa 08 viên nén hình tròn, màu hồng,
- 01 (một) chiếc đĩa sứ màu trắng, trên mặt đĩa có dính tinh thể trắng,
- 01 (một) tờ tiền mệnh giá 1.000đ và 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000₫ bên trong đều có chứa tinh thể trắng,
- 01 (một) chiếc tẩu hút tự tạo được quấn bằng tờ tiền mệnh giá 20.000đ,
- 01 (một) chiếc thẻ bằng nhựa,
- 02 (hai) bộ tẩu hút tự tạo,
- 02 (hai) chiếc cân điện tử,
- 03 (ba) chiếc bật lửa khò
- 01 (một) chiếc loa màu đen
- 01 (một) chiếc đèn nháy màu đen.
Thu giữ của Đặng Trần T 01 điện thoại Iphone8 Plus vỏ màu vàng, số Imei: 354831098082645, không lắp sim điện thoại.
Thu giữ của Nguyễn Thị Thiên T2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, không có số Imei, không lắp sim điện thoại.
Thu giữ của Quảng Thị Thu H1 01 điện thoại Iphone XsMax màu trắng, số Imei: 353112102562929 được lắp sim nhà mạng Vinaphone, trên thân sim có số: 898402000112591.
Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, đưa T, T2, H1, T6 cùng tang vật về trụ sở để làm rõ.
Tại bản Kết luận giám định số 5965/KLGĐ-PC09 ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Phòng PC09 - C2, kết luận:
- 200 viên nén màu vàng đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 80,482 gam.
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,394 gam.
- 08 viên nén hình tròn màu hồng bên trong 01 túi nilông đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,778 gam.
- Tinh thể màu trắng bên trên 01 đĩa sứ màu trắng (được cho vào 01 túi nilông) là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,218 gam.
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng đều là ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng 0,309 gam.
- 01 tẩu hút tự tạo bằng tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng và 01 thẻ bằng nhựa đều dính ma túy loại Ketamine.
- 02 bộ tẩu hút tự tạo và 02 cân điện tử đều có dính ma túy loại Methamphetamine.
Kết quả xét nghiệm nước tiểu Thương, T2, H1, T6 ngày 01/9/2023 đều dương tính với ma túy MET.
Tại cơ quan điều tra Đặng Trần T, Nguyễn Thị Thiên T2, Quảng Thị Thu H1, Đỗ Anh T6 khai nhận: Ngày 23/08/2023, được sự đồng ý của Vũ Ngọc Hải L1 (SN: 1994, HKTT: số D Đ, phường Đ, B, Hà Nội) Nguyễn Thị Thiên T2, Quảng Thị Thu H1 đến ở nhà L1 thuê tại địa chỉ: số A ngách D Đ, phường C, B, Hà Nội. Khoảng 19 giờ ngày 31/08/2023, T đến nhà L1 (do được L1 bảo đến ở cùng) tại địa chỉ số A ngách D Đ, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Đến nơi, T gọi cửa thì T2 ra mở cửa cho T vào nhà. Lúc này có Quảng Thị Thu H1 đang nấu cơm tại tầng 1. Sau khi vào nhà, T lên phòng tại tầng 2 (phòng của L1) ngồi, còn T2 đi lên phòng tại tầng 3. Một lát sau, T2 đi xuống vào phòng tại tầng 2 thì nhìn thấy T đang ở trong phòng, T2 nhìn thấy dưới sàn nhà có 01 khay nhựa màu nâu, trên khay có 02 mảnh giấy bạc chứa ma túy hồng phiến “ngựa”. Thoi chủ động bảo T cho em xin khói “ngựa”, T đồng ý, sau đó T cầm giấy bạc chứa ma túy ngựa, hơ lửa đốt cho T2 hút, T nói sẽ ở lại đây trông nhà giúp L1. T còn tự tay lấy ra 01 túi nilong bên trong chứa các viên ma túy hồng phiến khoe với T2 là trước khi L1 đi để lại cho T để sử dụng.
Khi H1 nấu cơm xong, bê lên phòng tại tầng 2 thì T, H1, T2 cùng nhau ăn cơm, ăn cơm xong, H1 là người rửa bát. Còn T và T2 ngồi tại phòng ở tầng 2 tiếp tục cùng nhau sử dụng ma túy “đá”. Một lát sau, H1 đi từ trên tầng 3 xuống và có mang theo 01 chiếc đĩa sứ màu trắng có chứa ma túy “ke”. H1 mời T và T2 cùng sử dụng ma túy. T đồng ý cùng sử dụng ma túy với H1. Thoi không sử dụng ma túy do H1 mời. Khoảng 01 giờ 30' ngày 01/09/2023, khi T cùng với T2 đang sử dụng ma túy trong phòng tại tầng 2 thì T2 nhận được cuộc gọi từ tài khoản Zalo tên “Độc Bước” xưng tên là C1, bảo T2 lấy túi nilong đựng ma túy “Cúc”, T2 không biết chỗ nên đã đưa điện thoại cho T nói chuyện. T làm theo chỉ dẫn lấy được 01 túi ma túy “kẹo”, T thấy số lượng ma túy “kẹo” để trong túi nilong nhiều, đã cất ma túy “kẹo” vào trong túi quần và tiếp tục chơi game. C1 gọi điện thoại lại cho T2 nhưng T2 không nghe, T thấy C1 gọi nhiều lần nên bảo T2 nghe máy, T2 bật loa ngoài thì T và T2 thấy C1 nói trong hộp tăm nhựa trong nhà còn một túi Ketamine nữa, nhưng T tìm không thấy. Chí còn nói lát nữa Chí về thì mang túi “kẹo” xuống cửa cho C1. Nghe thấy vậy, T liền cầm điện thoại của T2 và nói “tao không đưa cho ai hết” và tắt máy. T nói với T2 “túi ma túy kẹo này quá nhiều, đưa cho Chí nguy h, phải hỏi ý kiến L1 vì L1 là chủ nhà”. T2 đồng ý với T giữ lại túi nilong ma túy “kẹo” không đưa cho C1. Sau đó T gọi điện cho L1 thì L1 không nghe máy, T nhắn tin cho L1 qua ứng dụng Telegram, tài khoản “Vũ L1” với nội dung “em ơi, tình hình trong nhà thằng C1 nó vừa gọi điện về nói rằng trong nhà vẫn còn một túi kẹo, anh tìm thấy rồi, nó nhiều quá, em cho anh xin ý kiến”, thì L1 nói “anh chụp ảnh cho em xem” (lúc này T2 vẫn ngồi cạnh T), T cầm túi kẹo lên chụp ảnh và gửi cho L1. Tuy nhiên, nội dung tin nhắn này L1 đã xóa. T đã cất túi nilon chứa ma túy “Kẹo” vào bên trong chiếc gối gần chỗ T nằm, T2 cũng biết vị trí cất ma túy. H1 không biết việc T, T2 cất giấu ma túy.
Đến khoảng 10 giờ 00 ngày 01/09/2023, có Đỗ Anh T6 (SN: 1994, HKTT: Số E lô A T, phường Q, H, Hà Nội, là em xã hội của T,) đến. Khi T6 vào phòng tại tầng 2, T đã lấy một viên ma túy “ngựa” cho vào bộ tẩu hút tự tạo, châm lửa rồi mời T6 sử dụng. T6 cầm lấy bộ tẩu hút tự tạo đã có sẵn ma túy “ngựa” do T đưa và sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 30' ngày 01/09/2023, tổ công tác Công an quận T phối hợp với Công an phường C kiểm tra, khám xét phòng tại tầng 2 đã phát hiện ra ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy. Cơ quan công an đã lập biên bản sau đó đưa T, H1, T2, T6 về trụ sở để làm rõ.
Đối với 08 viên ma túy “ngựa” và 01 túi nilon chứa ma túy “đá” là do L1 gọi điện thoại chỉ cho T vị trí trong phòng ngủ của L1 tại tầng 2 nên T lấy ra để sử dụng và mời T6 cùng sử dụng.
Quá trình điều tra, Đặng Trần T, Nguyễn Thị Thiên T2, Quảng Thị Thu H1, Đỗ Anh T6 khai nhận hành vi vi phạm như trên. Ngoài ra các đối tượng khai nhận T2 sử dụng ma túy cùng L1 vào ngày 26/8/2023 và H1 sử dụng ma túy cùng L1, T6 vào các ngày 28, 30/08/2023. L1 mời T đến nhà chơi số A ngách D Đ và sử dụng ma túy cùng với L1 vào ngày 29/08/2023. Đối với Đỗ Anh T6 đã có hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ Nghị định số 144/2021 ngày 31/12/2021 của Chính phủ, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Đỗ Anh T6 với mức phạt là 1.500.000₫.
Đối với đối tượng Chí quá trình điều tra không xác minh được nhân thân lai lịch cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đã ra quyết định tách phần tài liệu về hành vi liên quan đến Vũ Ngọc Hải L1 để lập hồ sơ xác minh giải quyết theo chế độ tin báo tố giác tội phạm.
Đối với 08 viên ma túy “ngựa” là do L1 gọi điện thoại chỉ cho T vị trí trong phòng ngủ của L1 tại tầng 2 nên T lấy ra để sử dụng và mời T6 cùng sử dụng.
Quá trình điều tra, Đặng Trần T, Nguyễn Thị Thiên T2, Quảng Thị Thu H1 khai nhận hành vi vi phạm như trên. Ngoài ra các đối tượng khai nhận T2 sử dụng ma túy cùng L1 vào ngày 26/8/2023 và H1 sử dụng ma túy cùng L1, T6 vào các ngày 28,30/08/2023. L1 mời T đến nhà chơi số A ngách D Đ và sử dụng ma túy cùng với L1 vào ngày 29/08/2023.
Quá trình điều tra bổ sung: Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa bị can Quảng Thị Thu H1, Đặng Trần T và Đỗ Anh T6, xác định: Trong các ngày Ngày 23,25,29/8/2023, Đặng Trần T, Quảng Thị Thu H1, Đỗ Anh T6 sử dụng ma túy cùng với Vũ Ngọc Hải L1 tại tầng 3 nhà số A ngách D Đ, phường C, B, Hà Nội. T6 không đưa đĩa có ma túy cho H1 sử dụng, không đưa dụng cụ sử dụng ma túy, ma túy tổng hợp và châm tẩu cho T sử dụng. Do vậy không đủ căn cứ kết luận Đỗ Anh T6 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với Đỗ Anh T6 đã có hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ Nghị định số 144/2021 ngày 31/12/2021 của Chính phủ, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Đỗ Anh T6 với mức phạt là 1.500.000đ.
Đối với đối tượng Đ1, C1 quá trình điều tra không xác minh được nhân thân lai lịch cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đã ra quyết định tách phần tài liệu về hành vi liên quan đến Vũ Ngọc Hải L1 để lập hồ sơ xác minh giải quyết theo chế độ tin báo tố giác tội phạm.
Cáo trạng số 109/CT-VKS ngày 20 tháng 06 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo Đặng Trần T phạm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Nguyễn Thị Thiên T2 đã phạm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự; Quảng Thị Thu H1 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, được quy định tại khoản 1 điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Các bị cáo Đặng Trần T7, Nguyễn Thị Thiên T2, Quản Thị Thu H3 nhận tội và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng đã truy tố;
Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo bị cáo Đặng Trần T7, Nguyễn Thị Thiên T2, Quản Thị Thu H3 như bản cáo trạng số 109/CT-VKS ngày 20 tháng 06 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; Sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: điểm h khoản 3 điều 249; điểm a khoản 2 điều 255; điểm (tái phạm) khoản 1 điều 52; điểm s khoản 1 điều 51; Đ55; điều 38; Điều 47 Bộ Luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Trần T mức án từ 8 đến 9 năm tù tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; 13 đến 14 năm tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Tổng hợp hình phạt của hai tội là từ 21 đến 23 năm tù.
- Áp dụng: điểm b khoản 3 điều 249; điểm s khoản 1,2 điều 51; điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thiên T2 mức án từ 10 đến 11 năm tù.
- Áp dụng: khoản 1 điều 255; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều Đ106 Bộ luật tố tụng hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Quảng Thị Thu H1 mức án từ 3 đến 4 năm tù.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong có: 80,482 gam ma túy loại MDMA, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và các bị cáo; 01 bao niêm phong bên trong có: 0,778 gam ma túy loại Methamphetamine, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và các bị cáo; 01 bao niêm phong bên trong có: 01 đĩa sứ màu trắng và 0,218 gam ma túy loại Ketamine, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và các bị cáo; 01 bao niêm phong bên trong có: 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và 0,309 gam ma túy loại Ketamine, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và các bị cáo; 01 bao niêm phong bên trong có: 01 tẩu hút tự tạo bằng tờ tiền mệnh giá 20.000đồng, 01 thẻ nhựa đều dính ma túy loại Ketamine và 02 bộ tẩu hút tự tạo, 02 cân điện tử đều dính ma túy loại Methamphetamine, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và các bị cáo; 03 chiếc bật lửa khò; 01 chiếc loa màu đen; 01 chiếc đèn nháy màu đen.
- Tịch thu xung quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng - hồng, đã qua sử dụng, không có Imei trên thân vỏ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max màu trắng, đã qua sử dụng, không có Imei trên thân vỏ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, đã qua sử dụng, không có Imei trên thân vỏ.
- Trả lại Đỗ Anh T6 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím, đã qua sử dụng, không có Imei trên thân vỏ.
Ông Trương Công Đ- Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H bào chữa cho bị cáo Quảng Thị Thu H1 phát biểu: Ông Nhất trí với quan điểm của Viện Kiểm sát đã truy tố bị cáo Quản Thị Thu H3 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015. Ông phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, bị cáo phạm tội lần đầu, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, bị cáo là người mẹ đơn thân thuộc hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ bị cáo có đơn xin miễn án phí. Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, cho bị cáo Quảng Thị Thu H1 được hưởng mức án thấp nhất và được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, các bị cáo không có tranh luận gì; Trong lời nói sau cùng, các bị cáo Đặng Trần T, Nguyễn Thị Thiên T2, Quảng Thị Thu H1 xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến phát biểu quan điểm của Kiểm sát viên, bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản đối chất, biên bản tạm giữ đồ vật và biên bản niêm phong tang vật được lập; phù hợp với bản kết luận giám định, phù hợp với các biên bản, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra thu thập được, có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 01/9/2023, tại số A ngách D Đ, phường C, quận B, thành phố Hà Nội, Đặng Trần T và Nguyễn Thị Thiên T2 thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy với số lượng 80,842gam MDMA. Ngoài ra T còn có hành vi tàng trữ 0,778gam Methamphetamine; Và Đặng Trần T có hành vi chuẩn bị ma túy, dụng cụ tổ chức cho Nguyễn Thị Thiên T2 sử dụng trái phép chất ma túy ngày 31/8/2023; tổ chức cho Đỗ Anh T6 sử dụng trái phép chất ma túy ngày 01/9/2023; Quảng Thị Thu H1 có hành vi chuẩn bị đĩa sứ, ma túy tổ chức cho Đặng Trần T sử dụng trái phép chất ma túy ngày 31/8/2023.
- Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà N về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Ma túy là chất gây nghiện và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và là nguyên nhân lây truyền căn bệnh HIV. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo nghiêm minh.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra các bị cáo khai báo thành khẩn đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đặng Trần T có 01 tiền án chưa được xóa án tích đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Sau khi xem xét tính chất mức độ, vai trò, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Xét thấy, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng cải tạo và giáo dục.
- Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong có: 80,482 gam ma túy loại MDMA, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và các bị cáo; 01 bao niêm phong bên trong có: 0,778 gam ma túy loại Methamphetamine, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và các bị cáo; 01 bao niêm phong bên trong có: 01 đĩa sứ màu trắng và 0,218 gam ma túy loại Ketamine, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và các bị cáo; 01 bao niêm phong bên trong có: 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và 0,309 gam ma túy loại Ketamine, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và các bị cáo; 01 bao niêm phong bên trong có: 01 tẩu hút tự tạo bằng tờ tiền mệnh giá 20.000đồng, 01 thẻ nhựa đều dính ma túy loại Ketamine và 02 bộ tẩu hút tự tạo, 02 cân điện tử đều dính ma túy loại Methamphetamine, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và các bị cáo; 03 chiếc bật lửa khò; 01 chiếc loa màu đen; 01 chiếc đèn nháy màu đen.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng - hồng, đã qua sử dụng, không có Imei trên thân vỏ thu giữ của Đặng Trần T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max màu trắng, đã qua sử dụng, không có Imei trên thân vỏ thu giữ của Quảng Thị Thu H1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, đã qua sử dụng, không có Imei trên thân vỏ thu giữ của Nguyễn Thị Thiên T2 liên quan đến việc phạm tội nên cho tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím, đã qua sử dụng, không có Imei trên thân vỏ thu giữ của Đỗ Anh T6 không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho Đỗ Anh T6.
- Các bị cáo Đặng Trần T, Nguyễn Thiên T2 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật..
Xét, hành vi của bị cáo Đặng Trần T7 đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 và điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thiên T2 đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự; Hành vi của bị cáo Quản Thị Thu H3 đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm điểm h khoản 3 Điều 249; điểm a khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55 Bộ luật hình sự (Đối với Đặng Trần T); Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự (Đối với Nguyễn Thị Thiên T2); Căn cứ khoản 1 điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự (Đối với Quảng Thị Thu H1); Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Xử phạt: Đặng Trần T 9 (chín) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; 13 (mười ba) năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo phái chấp hành là 22 (hai mươi hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2023.
- Xử phạt: Nguyễn Thị Thiên Thoi 1 (mười một) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2023.
- Xử phạt: Q (bốn) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2023.
Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong có: 80,482 gam ma túy loại MDMA, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và các bị cáo; 01 bao niêm phong bên trong có: 0,778 gam ma túy loại Methamphetamine, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và các bị cáo; 01 bao niêm phong bên trong có: 01 đĩa sứ màu trắng và 0,218 gam ma túy loại Ketamine, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và các bị cáo; 01 bao niêm phong bên trong có: 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và 0,309 gam ma túy loại Ketamine, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và các bị cáo; 01 bao niêm phong bên trong có: 01 tẩu hút tự tạo bằng tờ tiền mệnh giá 20.000đồng, 01 thẻ nhựa đều dính ma túy loại Ketamine và 02 bộ tẩu hút tự tạo, 02 cân điện tử đều dính ma túy loại Methamphetamine, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và các bị cáo; 03 chiếc bật lửa khò; 01 chiếc loa màu đen; 01 chiếc đèn nháy màu đen; Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sựu quận B theo biên bản bàn giao vật chứng số 70 ngày 18/01/2024.
- Tịch thu xung quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng - hồng, đã qua sử dụng, không có Imei trên thân vỏ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max màu trắng, đã qua sử dụng, không có Imei trên thân vỏ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, đã qua sử dụng, không có Imei trên thân vỏ; Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sựu quận B theo biên bản bàn giao vật chứng số 70 ngày 18/01/2024.
- Trả lại Đỗ Anh T6 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím, đã qua sử dụng, không có Imei trên thân vỏ; Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sựu quận B theo biên bản bàn giao vật chứng số 70 ngày 18/01/2024.
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền được quyền kháng trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (Vắng mặt tại phiên tòa) có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
NƠI NHẬN:
- - TAND thành phố Hà Nội;
- - VKSND quận Ba Đình;
- - Công an quận Ba Đình;
- - Chi cục THADS quận Ba Đình;
- - Bị cáo;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ HẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Cẩm Hà |
Bản án số 116/2024/HSST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 116/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
