Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2024/HS-ST

Ngày 17-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Tuân, ông Nguyễn Văn Tư
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Thắng - Kiểm sát viên

Trong ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 107/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Thân Quang H, sinh năm 2004; Nơi thường trú: Thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Con ông Thân Văn T, sinh năm 19 và bà Dương Thị T1, sinh năm 19; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 23/10/2023 đến ngày 29/10/2023 được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại. (Có mặt)

* Bị hại: Bà Nguyễn Thị Ngọc T2, sinh năm 1973 (Vắng mặt)

Nơi thường trú: Số H đường N, tổ A, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

Nơi cư trú: Số nhà C, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Dương Văn D, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Thôn Y, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)
  2. Anh Thân Văn H1, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)
  3. Anh Trịnh Quang S, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Xóm B, thôn S, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)
  4. Ông Thân Văn T, sinh năm 1981. (Có mặt)
  5. Nơi thường trú: Thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang

  6. Bà Dương Thị T1, sinh năm 1983 (Có mặt)
  7. Nơi thường trú: Thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang

    Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang

  8. Ông Nguyễn Quang T3, sinh năm 1967 (Vắng mặt)
  9. Nơi cư trú: Số nhà A, đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thân Quang HDương Văn D có mối quan hệ quen biết nhau. Ngày 26/6/2023, H vay D 20.000.000 đồng bằng hình thức vay trả lãi để sử dụng việc cá nhân nhưng chưa trả được nợ. Buổi sáng ngày 11/7/2023, Thân Quang H mượn của bạn là Nguyễn Quốc T4 chiếc xe mô tô BKS 98B3-117.11 để đi lại. H điều khiển xe đi đến nhà anh Đào Ngọc C là người quen của H chơi. Do chơi tài sỉu trên mạng bị thua hết tiền nên H nảy sinh ý định đến quán cầm đồ của Dương Văn D để vay thêm tiền. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô BKS 98B3-117.11 đến cửa hàng cầm đồ của D hỏi vay thêm tiền nhưng D không đồng ý và bảo phải thanh toán số tiền 20.000.000 đồng đã vay trước đó. Vì vậy, H nảy sinh ý định đi thuê xe mô tô của người khác rồi mang đi cầm cố để lấy tiền trả nợ cho D, nếu còn dư sẽ sử dụng chi tiêu cá nhân. H hỏi D có biết địa điểm cho thuê xe mô tô hay không thì giúp liên hệ để H đi thuê xe nhưng không nói với D là thuê xe để đem đi cầm cố. D tìm trên mạng xã hội Facebook thì thấy tài khoản mang tên “Hiếu Đ” có đăng thông tin cho thuê xe và có số điện thoại để liên lạc. D liên lạc thì biết cửa hàng này ở số nhà H, đường N, phường T, thành phố B nên nói cho H biết để thuê xe. Sau đó, D đi ô tô đưa H đến địa chỉ trên gặp bà Nguyễn Thị Ngọc T2 là chủ cửa hàng. Hai người đi vào gặp bà T2 đặt vấn đề thuê xe mô tô. Bà T2 nói cửa hàng có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu trắng BKS 98B2-175.93 cho thuê với giá 500.000 đồng/01 ngày, ai thuê xe thì vào làm hợp đồng. H nói: “Cháu muốn thuê xe SH”. Bà T2 hỏi thời gian thuê thì H nói thuê trong 10 ngày sử dụng để đi lại. Bà T2 đồng ý cho H thuê chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH BKS 98B2-175.93 với giá 500.000 đồng/01 ngày, yêu cầu phải đặt cọc trước 8.000.000 đồng và trả trước tiền thuê xe của 10 ngày là 5.000.000 đồng; tổng số tiền mà H phải trả trước cho bà T2 là 13.000.000 đồng thì H đồng ý. Sau đó, bà T2 sử dụng điện thoại di động chụp ảnh H cầm căn cước công dân để lấy thông tin rồi đưa cho H mẫu “Hợp đồng cho thuê xe tự lái” theo mẫu in sẵn. H tự điền các thông tin và ký tên, điểm chỉ vào hợp đồng thuê xe rồi giao cho bà T2 giữ. Do không có tiền nên H hỏi vay D 13.000.000 đồng để thuê xe thì D đồng ý và chuyển khoản 13.000.000 đồng từ tài khoản số 6788511988 của D mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q đến tài khoản số 0963031926 của bà T2 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần V. Bà T2 giao cho H chiếc xe mô tô BKS 98B2-175.93 cùng đăng ký xe số 138708 mang tên Nguyễn Quang T3 do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp ngày 18/01/2018.

Sau khi H thuê được xe thì D đi ô tô còn H đi xe mô tô BKS 98B2-175.93 đến quán cầm đồ của D lấy lại căn cước công dân. Một lúc sau, H một mình đi xe mô tô BKS 98B2-175.93 đến nhà Đào Ngọc C đặt vấn đề cầm cố chiếc xe để vay tiền nhưng anh C không nhận cầm cố và giới thiệu H đến nhà Trịnh Quang S ở cùng thôn để cầm cố xe. H đi xe mô tô đến nhà anh S đặt vấn đề cầm cố chiếc xe mô tô để vay 40.000.000 đồng. Anh S đồng ý nhận cầm cố với số tiền 30.000.000 đồng nhưng H thấy được ít nên không đồng ý. Anh S gọi điện cho Thân Văn H1, sinh năm 1987, trú tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang nói về việc H muốn cầm cố chiếc xe máy và cho H số điện thoại của anh H1 để tự liên hệ. H gọi điện thoại thì anh H1 hẹn gặp tại đầu thôn T. Do không biết đường đi nên H đi xe máy đến nhà D nhờ chỉ dẫn đường đến nhà anh H1. D điều khiển xe ô tô còn H đi xe mô tô BKS 98B2-175.93 đến nhà anh H1. Khi đến nơi, H gặp anh H1 và đặt vấn đề cầm cố chiếc xe mô tô để vay 40.000.000 đồng. H1 kiểm tra thấy xe có đầy đủ giấy tờ nên đồng ý và đưa cho H 33.000.000 đồng, cắt lãi trước 7.000.000 đồng. Sau khi cầm cố xe xong, H đi ra cùng Duy đi về quán cầm đồ của D. Tại đây, H sử dụng số tiền cầm cố xe trả nợ D 33.000.000 đồng gồm 20.000.000 đồng là nợ trước đó và 13.000.000 đồng vay để thuê xe mô tô của bà T2. Trả tiền xong, H đi xe mô tô BKS 98B3-117.11 về trả lại T4.

Sau khi hết hạn thuê xe, vì không thấy H trả xe, bà T2 liên lạc với H nói nếu vẫn thuê xe sẽ phải trả thêm tiền thì H đồng ý nhưng không nói cho bà T2 biết việc đã cầm cố xe. Do không có tiền nên H không chuộc xe và trốn tránh, không liên lạc với bà T2 nữa. Ngày 23/10/2023, bà T2 làm đơn trình báo và giao nộp cho Công an thành phố B (một) hợp đồng cho thuê xe tự lái đề ngày 11/7/2023. Cùng ngày, Cơ quan điều tra triệu tập H để làm việc thì H đầu thú và khai nhận về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngày 23/10/2023, anh Thân Văn H1 giao nộp cho Cơ quan điều tra chiếc xe mô tô BKS 98B2-175.93 kèm theo đăng ký xe số 138708 do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp mang tên Nguyễn Quang T3

Kết luận định giá tài sản số 215 ngày 27/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 xe mô tô biển số 98B2-175.93, nhãn hiệu Honda SH, màu sơn trắng đen, đăng ký lần đầu ngày 03/12/2014, đã qua sử dụng có trị giá tại thời điểm ngày 11/7/2023 là 40.000.000 đồng”.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của Thân Quang H trên hợp đồng thuê xe đề ngày 11/7/2023. Kết luận giám định số 2077/KL-KTHS ngày 27/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Chữ ký, chữ viết trên tài liệu gửi giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Thân Quang H trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M1, M2, M3) là do cùng một người ký, viết ra”

Cơ quan điều tra cho bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và anh Thân Văn H1 nhận dạng Thân Quang H qua ảnh. Kết quả bà T2 và anh H1 đều nhận đúng ảnh. Bà T2 xác định cho H thuê chiếc xe mô tô BKS 98B2-175.93. Anh H1 xác định H cầm cố chiếc xe mô tô BKS 98B2-175.93 ngày 11/7/2023 để vay tiền. Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu OPPO của bà Nguyễn Thị Ngọc T2 thấy có lưu hình ảnh H cầm căn cước công dân. Bà T2 khai sử dụng điện thoại di động chụp lại hình ảnh này khi H đến thuê xe.

Quá trình điều tra xác định vào tháng 7/2021, Thân Quang H bị tai nạn giao thông và bị chấn thương sọ não nặng. Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định để xác định tình trạng tâm thần đối với bị cáo H. Kết luận giám định pháp y tâm thần số 26/KLGĐ ngày 15/3/2024 của Trung tâm P tâm thần khu vực miền núi phía Bắc kết luận: “1. Thân Quang H, sinh năm 2004, trú tại thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang không bị bệnh tâm thần. 2. Tại thời điểm thực hiện hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” ngày 11/7/2023, Thân Quang H không bị bệnh tâm thần, đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi. 3. Hiện tại (tại thời điểm giám định) Thân Quang H không bị bệnh tâm thần, đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi”

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Ngày 07/02/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc T2 chiếc xe mô tô BKS 98B2-175.93 kèm theo đăng ký xe. Quá trình điều tra, bị cáo H đã bồi thường cho anh Thân Văn H1 35.000.0000 đồng; bồi thường cho bà T2 15.000.000 đồng tiền thuê xe. Anh H1 và bà T2 không yêu cầu bồi thường thêm. Bà T2 có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo H. Đối với số tiền 33.000.000 đồng mà bị cáo H đưa cho D thì H xác định là tiền trả nợ D nên H không đề nghị gì.

Quá trình điều tra, Thân Quang H khai không bàn bạc với Dương Văn D về việc thuê xe của bà T2 đem đi cầm cố, H đoán D hiểu ý H thuê xe để đi cầm cố vì lúc đó D đang đòi tiền H nợ, D có vào cửa hàng của H1 và biết H cầm cố xe. D khai H nói thuê xe để đi lại và không biết mục đích H thuê xe để đem đi cầm cố, lý do D cho H vay tiền đặt cọc thuê xe vì H hứa trả nợ, nếu không trả được nợ thì sẽ bán xe máy của H đang để tại nhà D để trả nợ, khi đến nhà anh H1 thì D đứng ở ngoài nên không biết cụ thể việc H cầm cố xe, khi ra về và được H trả nợ 28.000.000 đồng thì D mới biết H đã cầm cố xe. Kết quả đối chất thì H và D giữ nguyên lời khai. Cơ quan điều tra kết luận D không bàn bạc với H về thuê xe của bà T2 đem đi cầm cố; thời điểm H cầm cố xe cho anh H1 vẫn trong thời hạn thuê xe nên không đủ căn cứ xác định D đồng phạm với H về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Thân Văn H1 khai H để lại xe mô tô BKS 98B2- 175.93 để làm tin và vay 35.000.000 đồng của H1; không phải cầm cố 40.000.000 đồng và cắt lãi 7.000.000 đồng như H khai. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho anh H1 và H đối chất nhưng các bên giữ nguyên lời khai. Kết quả điều tra xác định anh H1 không biết chiếc xe mô tô trên do H phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Tại bản cáo trạng số 113/CT-VKS ngày 24/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Thân Quang H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự

* Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo H trình bày: Nội dung, diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng nêu là đúng. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo đang làm tự do, thi thoảng mới có việc làm, hiện sống cùng bố mẹ và được bố mẹ nuôi ăn, ở.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Thân Văn T và bà Dương Thị T1 trình bày: Ông bà là bố mẹ bị cáo H. Bị cáo H có tác động ông bà bồi thường cho anh Thân Văn H1 số tiền 35.000.000 đồng và bồi thường tiền thuê xe cho bà Nguyễn Thị Ngọc T2 15.000.000 đồng. Ông bà tự nguyện bồi thường thay bị cáo H và không yêu cầu bị cáo H phải trả số tiền này. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • * Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa, công bố lời khai đối chất giữa bị cáo H với anh Dương Văn D và giữa bị cáo H với anh Thân Văn H1. Bị cáo H, ông T, bà T1 không có ý kiến gì đối với các lời khai được công bố.
  • * Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
    • + Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Thân Quang H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
    • + Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
    • + Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
  • * Không ai có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát
  • * Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các quyết định, hành vi này đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại (bà Nguyễn Thị Ngọc T2) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (anh Dương Văn D, anh Thân Văn H1, anh Trịnh Quang S, ông Nguyễn Quang T3) vắng mặt nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai. Sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

[3]. Về hành vi của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Kết luận giám định số 2077/KL-KTHS ngày 27/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B; Kết luận định giá tài sản số 215 ngày 27/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B; Kết luận giám định pháp y tâm thần số 26/KLGĐ ngày 15/3/2024 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 11/7/2023, bị cáo Thân Quang H dùng thủ đoạn gian dối là cố ý thuê của bà Nguyễn Thị Ngọc T2 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH BKS 98B2-175.93 trị giá 40.000.000 đồng bằng hình thức thuê xe tự lái với mục đích thuê được xe sẽ mang đi cầm cố lấy tiền. Ngay sau khi bà T2 giao xe thuê, bị cáo đã cầm cố chiếc xe này cho anh Thân Văn H1 vay được 33.000.000 đồng, số tiền này H đã sử dụng để trả nợ cho anh Dương Văn D. Sau khi cầm cố xe cho anh H1, bị cáo H không có khả năng lấy lại xe để trả cho bà T2. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh theo khoản, điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Để có tiền trả nợ, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối là thuê chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH BKS 98B2-175.93 trị giá 40.000.000 đồng của bị hại bằng hình thức thuê xe tự lái, rồi chiếm đoạt xe của bị hại bằng cách mang đi cầm cố lấy tiền. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đầu thú; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[7]. Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa từng bị Toà án xét xử và chưa từng bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

[8] Sau khi xem xét hành vi, tính chất, mức độ, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa từng bị xét xử, chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do vậy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam để cách ly bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo để bị cáo cải tạo tại địa phương cũng trở thành người có ích cho gia đình và xã hội theo Điều 65 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt như đề nghị của Viện Kiểm sát là phù hợp, đảm bảo giáo dục, răn đe bị cáo.

[9] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự để phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước, xong Hội đồng xét xử thấy bị cáo là lao động tự do, không có công ăn việc làm ổn định nên cần miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật.

[10] Về trách nhiệm dân sự:

  • [10.1]Nguyễn Thị Ngọc T2 đã nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH BKS 98B2-175.93 và đăng ký xe, nay bà T2 không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • [10.2] Bị cáo H đã tác động gia đình bồi thường cho anh Thân Văn H1 35.000.0000 đồng; bồi thường cho bà Nguyễn Thị Ngọc T2 15.000.000 đồng. Anh H1 và bà T2 không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  • [10.3] Ông Thân Văn T và bà Dương Thị T1 tự nguyện bồi thường thay bị cáo và không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền bồi thường này nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[12] Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 292; khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Thân Quang H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/6/2024).

    Giao bị cáo Thân Quang H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo (bị cáo Thân Quang H) thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - Công an thành phố Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Giang;
  • - UBND xã Tân Hưng, huyện Lạng Giang;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 116/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger