TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 116/2024/HNGĐ - ST Ngày: 15/8/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, nợ chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Yến Nhi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Trung
Ông Đặng Hoàng Tân
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Ngọc Huỳnh Như – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Chúc – Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 230/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, nợ chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2024/QÐST-HNGĐ ngày 02/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Cẩm V, sinh năm 1989. (Vắng mặt).
Địa chỉ thường trú: Ấp T, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Địa chỉ hiện nay: Ấp T, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Chị Bùi Thị Cẩm V có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 23/7/2024.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1983. (Vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Ấp T, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Địa chỉ hiện nay: Ấp T, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh B – Phòng G (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số 1 đường V, khu phố D, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Bùi Thị Cẩm V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn vào ngày 04 tháng 5 năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc đến khoảng năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hợp nhau, anh T thường xuyên nhậu nhẹt, không còn tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Từ năm 2023 cho đến nay, chị và anh Nguyễn Văn T sống ly thân không hàn gắn tình cảm được từ thời điểm đó cho đến nay. Nay, chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Do đó, bà yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thị Quế T1, sinh ngày 05/12/2011; Nguyễn Trường D, sinh ngày 12/9/2015. Hiện nay, cả 02 con chung đều đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi các con chung.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Chị và anh T có vay vốn tại Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh B – Phòng G số tiền là 50.000.000 đồng.
Tại biên bản lấy lời khai đề ngày 28/6/2024 bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Bùi Thị Cẩm V tổ chức đám cưới vào năm 2010 nhưng đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc đến khoảng năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, anh thường xuyên nhậu nhẹt nhưng không nghe lời khuyên của vợ. Anh và chị V đã sống ly thân khoảng hơn 08 tháng nay. Nay, chị V yêu cầu ly hôn với anh, anh đồng ý.
Về con chung: Quá trình sống chung, có 02 con chung là Nguyễn Thị Quế T1, sinh năm 2011; Nguyễn Trường D, sinh năm 2015. Hiện nay, cả 02 con chung đều đang sống với chị V.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Anh và chị V có vay vốn tại Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh B – Phòng G số tiền là 50.000.000 đồng.
Tại công văn đề ngày 09/7/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh B – Phòng G trình bày:
Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện G đang quản lý dư nợ số tiền 50 triệu đồng do hộ chị Bùi Thị Cẩm V và anh Nguyễn Văn T vay vốn, địa chỉ xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre, thuộc đối tượng chương trình cho vay hộ cận nghèo, vốn trong hạn, đang được sử dụng theo phương án chính sách xã hội tại xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre (đây là nhiệm vụ chính trị của đơn vị).
Việc Tòa án giải quyết vụ ly hôn giữa chị Bùi Thị Cẩm V với anh Nguyễn Văn T, không mất đi hộ vay vốn giải quyết chính sách xã hội là thành viên Hội nông dân xã, vốn vay vẫn được bảo toàn tại xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre. Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện G không bị ảnh hưởng về quyền và lợi ích trong việc bà Bùi Thị Cẩm V và ông Nguyễn Văn T ly hôn nên không tham gia tố tụng, không gửi tài liệu liên quan vốn vay của hộ cho Tòa án và không yêu cầu liên quan trong quá trình giải quyết vụ việc của Tòa án huyện Ba Tri, đối với vụ án như yêu cầu của Tòa án
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục: Tòa án đã tiến hành thụ lý vụ án theo đúng quy định. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, gồm: lập hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều 204 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), lập biên bản xác minh tình trạng hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn quy định tại khoản 2 Điều 97 BLTTDS, tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định từ Điều 208 đến Điều 211 BLTTDS. Về các lài liệu, chứng cứ được thu thập đầy đủ làm cơ sở giải quyết đúng đắn vụ án. Về thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo theo quy định tại Điều 203 BLTTDS. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tiến hành các hoạt động tố tụng theo đúng quy định về thủ tục bắt đầu phiên tòa, xét hỏi, tranh tụng. Thư ký tại phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về chuẩn bị khai mạc phiên tòa và các nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
- + Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị Cẩm V được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
- + Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Quế T1 – sinh ngày 05/12/2011 và Nguyễn Trường D – sinh ngày 12/9/2015 cho chị V tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, ghi nhận chị V không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- + Về tài sản chung: không có nên không xem xét giải quyết.
- + Về nợ chung: Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh B – Phòng G số tiền 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, Ngân hàng không có yêu cầu giải quyết trong vụ án nên không xem xét giải quyết.
- + Về án phí: Đương sự nộp theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Bùi Thị Cẩm V vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu Tòa xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng anh T vắng mặt không có lý do. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh B – Phòng G có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị V, anh T, Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh B – Phòng G là phù hợp với quy định tại các Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
[1] Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Cẩm V và anh Nguyễn Văn T cưới nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 04/5/2012. Do đó, hôn nhân của chị V và anh T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc đến năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh T thường xuyên đi nhậu và không nghe lời khuyên của chị V. Vợ chồng chị V, anh T đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay, không hàn gắn được tình cảm. Chị V vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với anh T. Đồng thời, anh T đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị V. Điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa chị V và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Xét thấy, yêu cầu ly hôn của chị V đối với anh T là có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về con chung:
Trong quá trình chung sống, chị V và anh T có hai con chung là Nguyễn Thị Quế T1, sinh ngày 05/12/2011; Nguyễn Trường D, sinh ngày 12/9/2015. Hiện các con chung đang do chị V nuôi dưỡng nên chị V yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung. Anh T2 không có ý kiến gì đối với yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các con chung của chị V. Mặc nhiên, anh T2 đồng ý để con chung Nguyễn Thị Quế T1, sinh ngày 05/12/2011; Nguyễn Trường D, sinh ngày 12/9/2015 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng. Căn cứ vào quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84, Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung Nguyễn Thị Quế T1, sinh ngày 05/12/2011; Nguyễn Trường D, sinh ngày 12/9/2015 cho chị V tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Điều này là phù hợp với nguyện vọng của con chung trên 07 tuổi.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị Bùi Thị Cẩm V về việc không yêu cầu anh Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.
[3] Về tài sản chung: Chị Bùi Thị Cẩm V và ông Nguyễn Văn T khai thống nhất không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[4] Về nợ chung: Ghi nhận người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh B – Phòng G không yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Nếu có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) chị Bùi Thị Cẩm V phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238; khoản 04 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-HĐTP ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Bùi Thị Cẩm V ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 09 ngày 04/5/2012 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Chị Bùi Thị Cẩm V được quyền trực tiếp nuôi các con chung Nguyễn Thị Quế T1, sinh ngày 05/12/2011; Nguyễn Trường D, sinh ngày 12/9/2015. Điều này là phù hợp với nguyện vọng của con chung trên 07 tuổi.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị Bùi Thị Cẩm V về việc không yêu cầu anh Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Nguyễn Văn T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở.
Chị Bùi Thị Cẩm V trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Chị Bùi Thị Cẩm V và anh Nguyễn Văn T khai thống nhất không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.
4. Về nợ chung Ghi nhận người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh B – Phòng G không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Chị Bùi Thị Cẩm V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0001183 ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, ông T3 đã nộp đủ án phí.
Chị Bùi Thị Cẩm V, anh Nguyễn Văn T, Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh B – Phòng G vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Hồ Thị Yến Nhi |
Bản án số 116/2024/HNGĐ - ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, nợ chung
- Số bản án: 116/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, nợ chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238; khoản 04 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-HĐTP ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Bùi Thị Cẩm V ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 09 ngày 04/5/2012 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. 2. Về con chung: Chị Bùi Thị Cẩm V được quyền trực tiếp nuôi các con chung Nguyễn Thị Quế T1, sinh ngày 05/12/2011; Nguyễn Trường D, sinh ngày 12/9/2015. Điều này là phù hợp với nguyện vọng của con chung trên 07 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Bùi Thị Cẩm V về việc không yêu cầu anh Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Nguyễn Văn T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Chị Bùi Thị Cẩm V trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. 3. Về tài sản chung: Chị Bùi Thị Cẩm V và anh Nguyễn Văn T khai thống nhất không có nên Hội đồng xét xử không xét đến. 4. Về nợ chung Ghi nhận người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh B – Phòng G không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
