Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 116/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15 - 7 - 2024

V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Thu Cúc; Ông Nguyễn Văn Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nhựt - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 349/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 về “tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 435/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Mai P, sinh năm 1990;

Hộ khẩu thường trú: Số E, Tổ G, đường N, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang;

Địa chỉ liên hệ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: Ông Trần Anh K, sinh năm 1980;

Cư trú: Số E, Tổ G, đường N, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa bà P và ông K đều vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Mai P trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân và gia đình: Bà Nguyễn Mai P và ông Trần Anh K tự

nguyện quen biết, tìm hiểu và tiến đến hôn nhân vào tháng 12 năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang. Thời gian đầu sau kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Nhưng sau khi sinh con thứ hai thì cuộc sống bắt đầu có khó khăn về kinh tế, mâu thuẫn vợ chồng cũng thường xuyên phát sinh. Nhiều lần ông K trong lúc say đã có lời lẽ sỉ nhục, lăng mạ, hạ thấp nhân phẩm bà P, đỉnh điểm là việc bà P bị ông K đánh. Ngoài ra, gia đình ông K cũng không đồng ý cho bà P tìm việc làm mà phải ở nhà phụng dưỡng cha mẹ chồng, trong khi đó toàn bộ chi phí sinh nở, chi phí học tập của các con và tiền tiêu xài cá nhân của bà P đều do cha mẹ ruột của bà P cung cấp. Do bà P không thể chấp nhận cuộc sống thiếu bình đẳng như vậy, nên bà P đã đưa các con về nhà ba mẹ ruột ở Vĩnh Long để sinh sống từ tháng 11 năm 2021, và tìm được việc làm ở trường T, tỉnh Vĩnh Long. Trong suốt quá trình bà P và các con về Vĩnh Long, ông K không phụ giúp được gì về kinh tế, hỗ trợ về tinh thần mà ngược lại còn cách 01 tuần hoặc 10 ngày nhậu say gọi điện chửi bới, sĩ nhục bà P. Đến lúc ông K bị đột quỵ thì gia đình chồng lại gọi bà P về chăm sóc. Bà P phải nghỉ việc vào thứ năm hằng tuần để về chăm sóc ông K, đến đầu tuần bà P lại đi làm. Nhưng gia đình chồng yêu cầu bà P phải nghỉ việc hẳn để ở nhà chăm sóc ông K, còn các con thì gửi ông bà ngoại ở Vĩnh Long chăm sóc. Bà P không đồng ý, nên từ đó nảy sinh mâu thuẫn. Gia đình chồng nhất là chị chồng chửi mắng bà P và các con của bà P thậm tệ, còn đòi dùng vũ lực đối với bà P. Dẫn đến từ ngày 01 tháng 5 năm 2023 đến nay bà P và các con không dám về nữa. Hiện nay bà P không muốn tiếp tục mối quan hệ vợ chồng này vì đã không còn tình cảm, không còn thực hiện được nghĩa vụ vợ chồng với nhau. Bà P kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông K.

- Về quan hệ con chung: Bà P và ông K có 02 con chung là cháu Trần Anh H, sinh ngày 19 tháng 6 năm 2013 và cháu Trần Thị Hoàng M, sinh ngày 22 tháng 9 năm 2017. Hiện tại cả hai cháu đang ở cùng bà P và ông bà ngoại tại Vĩnh Long. Sau khi ly hôn, bà P yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con chung Trần Thị Hoàng M và Trần Anh H, yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung cho cả 02 con số tiền 1.500.000 đồng/tháng/con, hoặc cấp dưỡng một lần cho cả 02 con đến khi đủ 18 tuổi. Trường hợp nếu ông K yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thì bà P không cấp dưỡng.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên hòa giải ngày 28 tháng 6 năm 2024, bà P xác định do hoàn cảnh của ông K khó khăn, bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nữa. Sau này nếu ông K có điều kiện thì bà P sẽ yêu cầu cấp dưỡng cho con sau.

Bị đơn ông Trần Anh K vắng mặt và cung cấp ý kiến, tài liệu chứng cứ trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông K và bà P tự nguyện đến với nhâu, có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại phường Đ, thành phố L. Ông K

làm nghề tài xế, bà P bán xe nước nhỏ ven đường, sau đó ở nhà nội trợ. Trong quá trình sống chung, ông K và bà P có mượn vàng của ba mẹ ruột của ông K và tiền của một vài người quen. Sau nhiều lần làm ăn thất bại và ảnh hưởng của dịch Covid19, ông K và bà P gặp khó khăn khi trả nợ. Do đó, bà P có xin cha mẹ chồng về nhà cha mẹ ruột ở T, tỉnh Vĩnh Long để kiếm việc làm cùng nhau trả nợ. Ông K tiếp tục lái xe thuê. Nhưng cuối cùng, bà P không giúp ông K trả nợ được đồng nào mà ngược lại ông K vừa trả nợ vừa gửi tiền nuôi con. Một mình ông K cố gắng làm việc để trả hết nợ và tạo một gia đình hạnh phúc. Ông K làm được vài năm thì bị đột quỵ. Tất cả chi phí đều do bạn bè và gia đình ông K chạy chữa cho ông K. Ông K nằm liệt một chỗ phải đến ở nhờ nhà chị ruột và anh rễ (do cha mẹ ruột đã lớn tuổi, không có người chăm). Mọi sinh hoạt vệ sinh cá nhân đều phải nhờ vào chị ruột và anh rễ ông K. Bà P chưa một ngày chăm sóc cho ông, mà giờ lại yêu cầu ly hôn, khả năng hàn gắn là không thể. Do đó, ông K đồng ý ly hôn với bà P.

- Về con chung: Ông K và bà P có hai con chung như bà P trình bày. Do ông K không có khả năng tự chăm sóc bản thân nên không thể chăm con. Vì vậy, ông K chấp nhận không nuôi con sau khi ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông K có yêu cầu không cấp dưỡng, vì ông không có khả năng lao động, mọi sinh hoạt ăn uống đều nhờ vào chị ruột.

- Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có.

Tòa án đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đương sự vắng mặt nên không hòa giải được. Do đó, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

Tại phiên tòa, bà P và ông K đều vắng mặt và có đơn xin vắng mặt, giữ nguyên ý kiến đã trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, là đảm bảo đúng theo trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Bà P kiên quyết ly hôn, ông K thống nhất ly hôn và không tham gia hòa giải. Mâu thuẫn của bà P và ông K đã đi đến trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà P là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Về con chung, bà P và ông K thống nhất có 02 con chung là Trần Anh H và Trần Thị Hoàng M, đang sinh sống với bà P, các con có nguyện vọng sinh sống với bà P. Do đó, nhằm đảm bảo ổn định về mặt tinh thần cũng như đảm bảo về quyền lợi mọi mặt cho con chung, nền đề xuất giao con

chung cho bà P chăm sốc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, bà P không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, đại diện Viện kiểm sát và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Mai P và ông Trần Anh K kết hôn có đăng ký kết hôn; bà P khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết vấn đề con chung, còn ông K cư trú trên địa bàn thành phố L. Nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bà P và ông K đều vắng mặt và có đơn xin vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung tranh chấp:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà P và ông K tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn. Bà P và ông K đều cho rằng vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng như ông bà đã trình bày, không còn tình cảm, khả năng hàn gắn là không thể. Xét thấy: Để cuộc sống gia đình hạnh phúc, mục đích hôn nhân đạt được thì vợ chồng phải có tình cảm tự nguyện từ hai phía, tin tưởng, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, chung tay cùng nhau xây dựng tổ ấm. Nhưng hiện nay bà P và ông K đều không thực hiện được những điều này, và không còn chung sống. Do đó yêu cầu khởi kiện của bà P là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.2] Về con chung: Bà P và ông K đều xác định ông bà có hai con chung là cháu Trần Anh H, sinh năm 2013 và cháu Trần Thị Hoàng M, sinh năm 2017. Bà P và ông K đều thống nhất giao hai cháu cho bà P tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Bản thân các cháu H, M hiện đang sống cùng với bà P và các cháu đều thể hiện nguyện vọng muốn được sinh sống cùng với mẹ. Vì vậy, cần ổn định việc nuôi con để tránh ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất, tinh thần của con chung, tạo điều kiện cho các cháu phát triển bình thường. Về cấp dưỡng cho con chung: Xét thấy, cấp dưỡng cho con là nghĩa vụ của cha mẹ và được quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Bà P không yêu cầu ông K cấp dưỡng cho con, nếu ông K có điều kiện thì sẽ yêu cầu sau; còn ông K không đồng ý cấp dưỡng cho con vì hiện nay ông không có khả năng lao động. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét về vấn đề cấp dưỡng cho con chung.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà P và ông K không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Bà P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; các Điều 147; 227; 228; 238; 266; 271; 273; 278; 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 19; 51; 53; 56; 58; 81; 82; 83; 84; 107; 110; 116; 117; 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Mai P được ly hôn với ông Trần Anh K.
  2. Về con chung: Bà Nguyễn Mai P và ông Trần Anh K có 02 (hai) con chung là cháu Trần Anh H, sinh ngày 19 tháng 6 năm 2013 và cháu Trần Thị Hoàng M, sinh ngày 22 tháng 9 năm 2017.

    Bà Nguyễn Mai P được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, trông nom, giáo dục các cháu Trần Anh H và Trần Thị Hoàng M. Bà Nguyễn Mai P và thành viên gia đình không được cản trở ông Trần Anh K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Trần Anh H và Trần Thị Hoàng M. Người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn có thể thay đổi theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

    Về cấp dưỡng cho con: Không xem xét. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nêu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
  4. Về án phí: Bà Nguyễn Mai P phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002088 ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên (đã nộp xong).
  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND t. An Giang (phòng KTNV-THA);
  • - VKSND tp. Long Xuyên;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS tp. Long Xuyên;
  • - UBND p. Mỹ Bình, Long Xuyên, An Giang;
  • (GCNKH số 92 ngày 19-12-2012)
  • - Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thùy Giang

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Sơn

Nguyễn Thị Thu Cúc

Nguyễn Thùy Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 116/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: P ly hôn K
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger