|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 116/2024/DS-ST
Ngày 14/8/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Giúp Đở
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Hồng Hạnh
Ông Lê Hoàng Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Võ Tường Vy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Khang – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 210/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 463/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B
Địa chỉ: Tòa nhà H, số D N, Phường E, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoài P (Văn bản ủy quyền ngày 14/6/2024) (có mặt)
Bị đơn: Ông Dương Hoài N, sinh năm 1988
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Lương Thị N1 (Văn bản uỷ quyền ngày 11/4/2024) (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1962 (có mặt)
Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ.
2/ Bà Lương Thị N1, sinh năm 1972 (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05/9/2022 và quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng trình bày:
Ngày 13/3/2019, ông Dương Hoài N có ký kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP B vay số tiền 700.000.000đồng. Mục đích vay: Sửa chữa nhà; Thời hạn vay: 120 tháng; Lãi suất cho vay: 13%/năm; Lãi suất quá hạn: 150% lãi cho vay trong hạn; Lãi suất chậm trả: 10%/năm. Ngày 26/4/2019, ông Dương Hoài N ký hợp đồng mở thẻ tín dụng vay số tiền 10.000.000đồng.
Để bảo đảm cho khoản nợ vay ông N đã thế chấp quyền sử dụng đất có diện tích 15041,6m², thuộc thửa 139, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ do ông Dương Hoài N đứng tên chủ sử dụng đất.
Quá trình thực hiện hợp đồng ông N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và nợ lãi. Mặc dù, Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu ông N thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ nhưng đến nay ông N chỉ thanh toán được 345.090.000đồng nợ gốc của hợp đồng tín dụng và thanh toán được một phần nợ gốc của thẻ tín dụng. Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông N phải thành toán hết số tiền còn nợ tính đến ngày 26/7/2024 là 854.907.471đồng của 02 khoản vay gồm:
- - Hợp đồng tín dụng: Vốn gốc còn nợ 354.910.000đồng, nợ lãi trong hạn 351.645.313đồng, lãi quá hạn 47.999.803đồng, lãi phạt chậm trả lãi 83.171.480đồng;
- - Thẻ tín dụng: Vốn gốc còn nợ 79.727đồng, lãi quá hạn 17.101.148đồng.
Ngoài ra, ông N còn phải chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp ông N không thanh toán được nợ thì Ngân hàng yêu cầu được phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lương Thị N1 trình bày:
Ông Dương Hoài N có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP B để vay số tiền 700.000.000đồng để sửa chữa nhà, thời hạn vay là 10 năm. Ngoài ra, ông N có mở thẻ tín dụng 10.000.000đồng nhưng đến ngày 29/01/2024 thì ông N đã thanh toán toàn bộ khoản nợ gốc của thẻ tín dụng, còn nợ lãi thì Ngân hàng đã miễn lãi nên trên phiếu thu ghi thanh toán thẻ tín dụng. Do tình hình dịch bệnh Covid năm 2020 – 2021 dẫn đến công việc làm ăn gặp nhiều khó khăn nên không có khả năng thanh toán nợ cho Ngân hàng. Tuy nhiên, ông N cũng đã thanh toán được khoảng 345.000.000đồng nợ gốc cho Ngân hàng, còn nợ lại vốn gốc khoảng 355.000.000đồng. Về phần nợ lãi thì ông N thống nhất nợ lãi nhưng ông N có thoả thuận với Ngân hàng khi nào tất toán nợ gốc thì Ngân hàng sẽ xem xét miễn, giảm phần nợ lãi.
Về tài sản thế chấp là đất trồng lúa, mặc dù giấy đất là Dương Hoài N đứng tên nhưng thực tế quyền sử dụng đất này là của bà nên bà có cố cho ông Nguyễn Văn R với giá 500.000.000đồng. Việc cầm cố này có làm hợp đồng bằng giấy tay, thời hạn cầm cố là 01 năm, nhưng hết 01 năm mà bà không chuộc lại thì ông R tiếp tục sử dụng. Trường hợp ông N không có khả năng trả nợ thì bà và ông N
đồng ý giao tài sản thế chấp cho Ngân hàng phát mãi thu hồi nợ. Về việc cố đất giữa bà và ông R thì hai bên tự thoả thuận giải quyết, không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn R trình bày:
Vào tháng 11/2020 ông có nhận cố đất của bà Lương Thị N1 phần đất có diện tích 15041,6m², thửa đất số 139, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. Khi cố đất hai bên có lập hợp đồng và có chữ ký của bà Lương Thị N1, giá cầm cố là 500.000.000đồng, thời hạn cố là 01 năm, kể từ tháng 11/2020 đến tháng 11/2021. Tuy nhiên, nếu hết thời hạn cầm cố mà bà N1 không chuộc lại thì ông được quyền sử dụng cho đến khi bà N1 chuộc lại. Trước đây do không xem giấy tờ đất nên ông không biết con bà N1 là ông Dương Hoài N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên mới ký hợp đồng với bà N1. Nay ông biết tài sản này bà N1 đã sang tên cho ông Dương Hoài N năm 2019 và thế chấp ở Ngân hàng TMCP B thì ông không có ý kiến. Trường hợp tài sản này bị phát mãi thu hồi nợ thì ông đồng ý giao tài sản này cho Ngân hàng phát mãi thu hồi nợ. Còn tiền cố đất 500.000.000đồng giữa ông và bà N1 thì sẽ tự thoả thuận giải quyết, nếu không không thoả thuận được thì ông sẽ khởi kiện bà N1 thành một vụ án khác.
Tại phiên tòa:
Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án buộc ông Dương Hoài N trả số tiền còn nợ tính đến ngày 14/8/2024 là 858.863.730đồng của 02 khoản vay gồm:
- - Hợp đồng tín dụng: vốn gốc 354.910.000đồng, lãi trong hạn 353.862.285đồng, lãi quá hạn 47.999.803đồng, lãi phạt chậm trả lãi 84.990.766đồng;
- - Thẻ tín dụng: Còn nợ lãi quá hạn 17.100.876đồng.
Ngoài ra, Ngân hàng yêu cầu Toà án buộc ông N phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ theo hợp đồng tín dụng mà ông N đã ký. Nếu ông N không thanh toán nợ thì Ngân hàng TMCP B được quyền yêu cầu Cơ thi hành án phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Đại diện bị đơn thừa nhận ông N còn nợ gốc và nợ lãi của hợp đồng tín dụng như Ngân hàng đã yêu cầu là đúng nên ông N đồng ý trả nợ, nếu không trả nợ thì ông N đồng ý giao tài sản thế chấp cho Ngân hàng xử lý thu hồi nợ. Đối với thẻ tín dụng ông N đã thanh toán hết khoản nợ gốc, còn khoản nợ lãi như đại diện Ngân hàng trình bày là đúng và đồng ý thanh toán, nhưng sau này ông N sẽ đề nghị Ngân hàng xem xét miễn phần lãi sau khi thanh toán hết nợ gốc của hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, đối với án phí thì ông N không đồng ý chịu khoản tiền này vì thời hạn vay của hợp đồng là mười năm và ông N vẫn còn thanh toán nợ cho Ngân hàng, nhưng Ngân hàng đã khởi kiện yêu cầu trả nợ và buộc ông N phải chịu tiền án phí nên ông N không đồng ý, ông N chỉ đồng ý chịu tiền xem xét thẩm định tại chỗ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Văn R đồng ý giao phần đất mà bà N1 đã cầm cố cho ông để Ngân hàng xử lý thu hồi nợ nếu ông N không thanh toán nợ. Đối với hợp đồng cố đất giữa ông và bà N1 sẽ tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết trong vụ án này.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Hội đồng xử và Thư ký đã tuân thủ đúng quy định pháp luật kể từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử đúng theo quy định, nhưng còn vi phạm về thời hạn đưa vụ án ra xét xử. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng TMCP B, buộc ông Dương Hoài N phải trả tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 14/8/2024 là 858.863.730đồng và ông N phải chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ. Đề nghị chấp nhận yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp nếu ông N không thanh toán nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Căn cứ vào yêu cầu của đương sự và nơi cư trú của bị đơn thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án án nhân dân huyện Thới Lai theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện: Ngày 13/3/2019, ông Dương Hoài N có ký kết với Ngân hàng TMCP B hợp đồng tín dụng để vay số tiền 700.000.000đồng. Mục đích vay: Sửa chữa nhà; Thời hạn vay: 120 tháng; Lãi suất cho vay: 13%/năm; Lãi suất quá hạn: 150% lãi cho vay trong hạn; Lãi suất chậm trả: 10%/năm. Ngày 26/4/2019, ông Dương Hoài N ký hợp đồng mở thẻ tín dụng vay số tiền 10.000.000đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn chỉ thanh toán được số tiền 345.090.000đồng nợ gốc của hợp đồng tín dụng và thanh toán được nợ gốc của thẻ tín dụng. Tại phiên toà đại diện bị đơn thừa nhận toàn bộ các khoản nợ gốc, nợ lãi của hợp đồng tín dụng, khoản nợ lãi của thẻ tín dụng và bị đơn đồng ý thanh toán các khoản nợ này. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của về việc buộc bị đơn phải thanh toán toàn bộ khoản nợ hợp đồng tín dụng và khoản nợ thẻ tín dụng là có căn cứ nên chấp nhận, đồng thời bị đơn còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ như đã thuận trong hợp đồng tín dụng mà bị đơn đã ký kết.
[3] Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Để bảo đảm cho khoản nợ vay hợp đồng tín dụng ngày 13/9/2019, bị đơn đã đã thế chấp quyền sử dụng đất có diện tích 15041,6m², thửa đất số 139, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. Đến nay bị đơn chưa thanh toán hết các khoản nợ vay nên Ngân hàng TMCP B yêu cầu được phát mãi các tài sản thế chấp để thu hồi nợ, nếu bị đơn không thanh toán được nợ là có cơ sở chấp nhận.
[4] Đối với hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất thuộc thửa số 139, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ ngày 16/11/2020 giữa bà Lương Thị N1 và ông Nguyễn Văn R. Do các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét, nếu sau này có phát sinh tranh chấp thì ông R hoặc bà N1 có quyền khởi kiện thành vụ án khác để giải quyết.
[5] Về án phí dân sự: Bị đơn phải chịu theo quy định, Ngân hàng được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[6] Về chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu, Ngân hàng được nhận lại tiền tạm ứng chi phí tố tụng.
[7] Xét đề nghị của Đại diện viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận đề nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 74, Điều 147 và Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 323 của Bộ luật dân sự 2015;
Điều 100 và Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng 2024;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Buộc ông Dương Hoài N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP B số tiền 858.863.730 đồng. Trong đó: Hợp đồng tín dụng còn nợ gốc 354.910.000đồng, lãi trong hạn 353.862.285đồng, lãi quá hạn 47.999.803đồng, lãi phạt chậm trả lãi 84.990.766đồng; Thẻ tín dụng: Còn nợ lãi quá hạn 17.100.876đồng. Kể từ ngày 15/8/2024 ông N còn phải chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ theo hợp đồng tín dụng mà ông N đã ký kết.
- Trường hợp ông N không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP B được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất có diện tích 15041,6m², thửa đất số 139, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ do ông Dương Hoài N đứng tên chủ sử dụng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: 37.766.000đồng, ông N phải chịu. Ngân hàng TMCP B được nhận lại 21.693.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005388 ngày 09/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
- Về chi phí tố tụng: 2.500.000đồng, ông N phải chịu. Do Ngân hàng đã tạm ứng trước nên ông N phải trả lại cho Ngân hàng 2.500.000đồng.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Giúp Đỡ |
Bản án số 116/2024/DS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 116/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
