Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 116/2024/HS-ST

Ngày: 12-6-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hữu Đệ

Bà Ngô Thị Yêm

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 119/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN HỮU L1, sinh năm 1963; Nơi thường trú: Thôn A, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Hữu T (đã chết) và bà: Nguyễn Thị N (đã chết); Có vợ: Phan Thị S; Có 03 con, con lớn sinh năm 1983, con nhỏ sinh năm 1991; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt.

- Người bị hại: Ông Nguyễn Công H, sinh năm 1960 (đã chết ngày 07/6/2023).

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại:

1. Bà Hà Thị H1, sinh năm 1965 (là vợ ông H);

Nơi thường trú: Tổ dân phố C, thị trấn Nông trường T, huyện V, tỉnh Yên Bái - Vắng mặt.

2. Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1988 (là con ông H);

Nơi thường trú: Số B, đường A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng - Vắng mặt.

3. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1991 (là con ông H);

Nơi thường trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn Nông trường T, huyện V, tỉnh Yên Bái - Có mặt.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Hà Thị H1 và chị Nguyễn Thị H2 là anh Nguyễn Văn Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 05/5/2023, Ủy ban nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội cấp Giấy phép xây dựng số 494/2023/GPXD cho ông Nguyễn Đức X, sinh năm 1960 (Nơi thường trú: Thôn T, xã B, huyện Đ, thành phố Hà Nội) xây dựng công trình nhà ở của gia đình trên thửa đất số 40(1), tờ bản đồ số 01, diện tích 196,2m² tại thôn T, xã B, huyện Đ, thành phố Hà Nội với tổng diện tích xây dựng là 315,6 m², số tầng 3 tầng. Ông Nguyễn Đức X ký hợp đồng thuê bị cáo Nguyễn Hữu L1 là chủ cai xây dựng để xây dựng công trình. Đầu tháng 4/2023, Nguyễn Hữu L1 thuê các công nhân tự do gồm: ông Nguyễn Công H, sinh năm 1960 (Nơi thường trú: Tổ dân phố C, Thị trấn nông trường T, huyện V, tỉnh Yên Bái); ông Nguyễn Đức L2, sinh năm 1963 (Nơi thường trú: Thôn A, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình); anh Phan Văn Đ1, sinh năm 1972 (Nơi thường trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình); anh Lò Văn H3, sinh năm 1979 và chị Lường Thị T1, sinh năm 1979 là vợ anh H3 (Cùng thường trú tại: Bản N, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La) đến xây dựng công trình nhà ở cho ông X. Giữa L1 với các công nhân nêu trên không ký hợp đồng lao động mà chỉ thỏa thuận miệng với nhau về việc làm và tiền công lao động là 360.000 đồng/công, ăn, ở tại công trình. Quá trình tổ chức lao động, Nguyễn Hữu L1 không tổ chức tập huấn về an toàn lao động cho công nhân mà chỉ trang bị các đồ bảo hộ lao động như mũ bảo hiểm, găng tay, dây an toàn. Ngày 07/6/2023, Nguyễn Hữu L1 chỉ đạo nhóm công nhân tiến hành ghép cốt pha để đổ mái tầng 3. Buổi chiều cùng ngày thì đóng, ghép cốt pha tại khu vực cầu thang và phần mái vát đua ra bên ngoài.

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 07/06/2023, khi anh Phan Văn Đ1 đang ghép cốt pha khu vực cầu thang thì thấy ông H trèo lên tường đi ra mái tầng 3 để đóng ghép cốt pha tại phần mái vát đua ra ngoài. Khoảng 5 phút sau, ông Nguyễn Đức X nghe thấy tiếng động ở bên ngoài thì cùng mọi người chạy ra thấy ông H đang nằm bất động ở dưới mặt đất, chảy máu vùng đầu. Ông X cùng mọi người gọi Trung tâm C đến và xác định ông H đã tử vong nên trình báo chính quyền địa phương.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:

- Tại vị trí ông H nằm bất tỉnh có 01 tấm ván gỗ gồm 02 tấm gỗ, kích thước (1,62x0,27x0,02)m và 01 thanh gỗ dạng cây keo dài 0,99m (01 đầu có đường kính 07cm, đầu còn lại có dấu vết gãy nham nhở, đường kính 6,5cm).

- Phòng đầu phía Tây tầng 3 đang xây dựng có kích thước (5x4,5)m, trên tường phía Bắc có cố định các thanh gỗ dạng cây keo chìa ra bên ngoài tường làm giá đỡ, các cây tre làm giàn giáo. Trên tường phía Bắc phòng, sát tường phía Tây, cao cách nền tầng 3 là 1,5m có lỗ trên tường cố định thanh gỗ dạng cây keo dài 1,42m (một đầu có đường kính 06cm, đầu còn lại có đường kính 6,5cm, có dấu vết gãy nham nhở) chìa ra phía bên ngoài tường.

Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ ra Quyết định trưng cầu Trung tâm P khám nghiệm tử thi nạn nhân Nguyễn Công H nhưng gia đình nạn nhân H từ chối pháp y mổ tử thi, chỉ đồng ý khám nghiệm bên ngoài tử thi và xác định nạn nhân H tử vong do tai nạn lao động, cam đoan không thắc mắc về việc nguyên nhân chết của ông H.

Tại bản kết luận giám định tử thi số 762/701/KLGĐTT-TTPY ngày 04/7/2023, Trung tâm P kết luận:

+ Kết quả khám nghiệm: Các vết sây sát, bầm tím da vùng trán đỉnh, thái dương, má trái; sờ nắn thấy biến dạng xương trán đỉnh; biến dạng xương chính mũi; sây sát, bầm tím ngực trái; sây sát da mạn sườn trái; sây sát da mặt trước cổ tay phải; sây sát da mu gốc ngón I tay phải; sây sát, da bầm tím da mặt trước trong cánh tay, khuỷu tay, cẳng tay trái; biến dạng 1/3 dưới cánh tay trái; bầm tím, sây sát da mặt mu bàn tay trái; sây sát da vùng lưng phải; sây sát da mặt ngoài 1/3 giữa cẳng chân phải: Nhiều khả năng do va chạm vào vật tày gây nên.

+ Kết quả xét nghiệm, giám định khác: Mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Công H giám định: Không tìm thấy E và các chất ma túy.

Ngày 15/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ có công văn đề nghị Thanh tra Sở L3 phối hợp giải quyết. Tại Biên bản điều tra tai nạn lao động số 882/BBĐTTNLĐ ngày 08/9/2023 của Đoàn điều tra tai nạn lao động thành phố Hà Nội, kết luận:

Nguyên nhân gây ra tai nạn:

Không có người chứng kiến thời điểm xảy ra tai nạn, theo kết quả điều tra, Đoàn điều tra tai nạn lao động thành phố Hà Nội nhận định, nguyên nhân gây ra tai nạn do lỗi của cả người sử dụng lao động và người lao động.

Khi lắp đặt, đưa vào sử dụng giáo khu vực ngoài tầng 3 công trình đã không đảm bảo an toàn, người lao động làm việc trên giàn giáo không có các biện pháp đảm bảo an toàn, vệ sinh an toàn lao động phù hợp như: Sử dụng dây đeo an toàn, dây cứu sinh cho người lao động khi làm việc trên cao, lắp dựng lưới chống vật rơi dẫn đến khi ông Nguyễn Công H làm việc lắp dựng cốt pha mái, di chuyển trên sàn thao tác giáo ngoài tầng 3 (vị trí nguy hiểm), sàn thao tác bị sập, đổ làm ông H ngã xuống đất gây tai nạn.

Ngoài ra, nguyên nhân xảy ra tại nạn lao động một phần do nạn nhân không nhận thức được mối nguy, nguy cơ xảy ra tai nạn ngã cao khi di chuyển tại khu vực nguy hiểm để có biện pháp phòng tránh.

Kết luận về vụ tai nạn:

Vụ tai nạn hồi 14 giờ 00 ngày 07/6/2023 tại công trình xây dựng nhà ở gia đình của ông Nguyễn Đức X tại thôn T, xã B, huyện Đ, thành phố Hà Nội làm ông Nguyễn Công H bị tử vong xảy ra trong quá trình lao động, trong thời gian làm việc, gắn liền với thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động, vì vậy đây là vụ tai nạn lao động.

Kết luận về những người có lỗi trong vụ việc:

Ông Nguyễn Hữu L1 - Chủ thầu, người sử dụng lao động: Tổ chức lắp dựng giàn giáo không đảm bảo an toàn (không kiểm tra đảm bảo chắc chắn và khả năng chịu trọng tải giàn giáo trước khi đưa vào sử dụng); không có biện pháp đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động phù hợp cho người lao động tại khu vực nguy hiểm là khu vực lắp dựng giàn giáo ngoài trên Công trình (như: huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động; trang cấp dây cứu sinh, dây an toàn, lắp đặt lưới chống vật rơi...).

Ông Nguyễn Công H - nạn nhân, có lỗi không nhận thức được mối nguy, nguy cơ xảy ra tai nạn ngã cao khi di chuyển tại khu vực nguy hiểm nhưng không có biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động phù hợp dẫn đến tai nạn.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) tấm ván gỗ; 02 (hai) thanh gỗ dạng cây keo.

Về dân sự: Bị cáo Nguyễn Hữu L1 đã tự nguyện bồi thường số tiền 185.000.000 đồng cho gia đình ông Nguyễn Công H, sau khi nhận bồi thường gia đình ông H không có yêu cầu gì khác và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Hữu L1.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Hữu L1 thành khẩn khai nhận hành vi hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số 217/CT-VKS-ĐA ngày 21/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Hữu L1 về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu L1 khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận trong quá trình tổ chức lao động thi công tại công trình xây dựng của gia đình ông Nguyễn Đức X ở thôn T, xã B, huyện Đ, thành phố Hà Nội, bị cáo đã vi phạm quy định về an toàn lao động dẫn đến hậu quả ông Nguyễn Công H bị ngã và tử vong tại công trình. Bị cáo thừa nhận việc truy tố và xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu L1 mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Và quyết định về án phí, quyền kháng cáo của bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại và xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng bị cáo trình bầy: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo đã cao tuổi, hiểu biết pháp luật còn hạn chế để cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có điều kiện sửa chữa, lao động và chăm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Hữu L1 khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản điều tra tai nạn lao động, biên bản tạm giữ đồ vật cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 00 ngày 07/6/2023, bị cáo Nguyễn Hữu L1 trong quá trình tổ chức lao động, thi công tại công trình xây dựng nhà ở của gia đình ông Nguyễn Đức X tại thôn T, xã B, huyện Đ, thành phố Hà Nội đã vi phạm quy định về an toàn lao động: Tổ chức lắp dựng giàn giáo không đảm bảo an toàn (không kiểm tra đảm bảo chắc chắn và khả năng chịu trọng tải giàn giáo trước khi đưa vào sử dụng); không có biện pháp đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động phù hợp cho người lao động tại khu vực nguy hiểm là khu vực lắp dựng giàn giáo ngoài trên công trình (như huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động; trang cấp dây cứu sinh, dây an toàn, lắp đặt lưới chống vật rơi...) theo quy định tại Điều 14, 15, 16 Luật an toàn, vệ sinh lao động; Nghị định số 44/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 140/2018/NĐ-CP ngày 08/10/2018 của Chính phủ; khoản 4 điều 13 Nghị định 06/2021/NĐ-CP ngày 26/01/2021 của Chính phủ dẫn đến làm chết 01 người. Hành vi vi phạm quy định về an toàn lao động làm chết 01 người của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh truy tố bị cáo Nguyễn Hữu L1 về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận tiền bồi thường và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo đã có thời gian tham gia quân đội nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự. Về nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo không có tiền án, tiền sự nên được xác định là có nhân thân tốt.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm các quy định về an toàn lao động được pháp luật hình sự quy định để bảo vệ tính mạng, sức khỏe cho người lao động và gây hậu quả chết người. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự nhưng do chủ quan, cẩu thả coi thường quy tắc an toàn lao động dẫn đến phạm tội, do vậy, cần xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử, xét thấy: bị cáo vô ý phạm tội; người bị hại trong vụ án cũng có một phần lỗi; Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo là người cao tuổi, làm cai thầu công trình xây dựng nhỏ lẻ và trực tiếp lao động cùng người lao động; hiểu biết và điều kiện trang bị an toàn lao động còn hạn chế để đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo; xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo nên cần xét xử bị cáo hình phạt tù trong khung hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, để bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giúp đỡ, giám sát của chính quyền địa phương cũng có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung. Về hình phạt bổ sung: bị cáo có thu nhập thấp, không ổn định và là lao động chính trong gia đình nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về phần dân sự: Bị cáo đã hỗ trợ số tiền mai táng và bồi thường cho người đại diện hợp pháp của người bị hại tổng số tiền là 185.000.000 đồng. Những người đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận số tiền trên, không yêu cầu bồi thường thêm về phần dân sự và không yêu cầu giải quyết về dân sự nên không giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 tấm ván gỗ gồm 02 tấm gỗ KT (1,62x0,27x0,02)m; 01 thanh gỗ dạng cây keo dài 0,99m, một đầu có dấu vết gãy nham nhở; 01 thanh gỗ dạng cây keo dài 1,42m, một đầu có dấu vết gãy nham nhở là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Bị cáo Nguyễn Hữu L1 là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi và quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu L1 phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.

- Căn cứ vào: điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu L1 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình (nơi bị cáo cư trú) để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

- Căn cứ vào: khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Nếu “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

Căn cứ vào: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 tấm ván gỗ gồm 02 tấm gỗ KT (1,62x0,27x0,02)m; 01 thanh gỗ dạng cây keo dài 0,99m, một đầu có dấu vết gãy nham nhở; 01 thanh gỗ dạng cây keo dài 1,42m, một đầu có dấu vết gãy nham nhở có đặc điểm, tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/5/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.

Theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi và quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo Nguyễn Hữu L1 được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hạicó quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Đông Anh;
  • - Công an huyện Đông Anh;
  • - Chi cục THADS huyện Đông Anh;
  • - UBND xã Chí Hoà, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Người đại diện hợp pháp của người bị hại;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Anh Tuấn

(Đã ký)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (vi phạm quy định về an toàn lao động)

  • Số bản án: 116/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về an toàn lao động)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu L1 - Tội vi phạm quy định về an toàn lao động
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger