Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LẠNG SƠN

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 116/2024/HS-ST

Ngày 11-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Tạ Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thị Xuân

Bà Lành Thị Thanh Xuân

Thư ký phiên tòa: Bà Lành Thị Thanh Nụ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 113/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024, Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 29/2024/QĐ-TA ngày 09 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Kinh K, sinh ngày 05 tháng 6 năm 1968 tại thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số C, ngõ B, đường B, phường H, thành phố L; căn cước công dân số: [...], cấp ngày 16-10-2022; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Kinh D và bà: Bạch Kim L; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 18-4-1991 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 năm tù giam về tội Cướp tài sản của công dân Bản án số 12/HS-ST; ngày 18-12-1996 bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là Tòa án nhân dân thành phố) Lạng Sơn xử phạt 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản của công dân theo Bản án số 174; ngày 23-7-1998 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 03 năm tù giam về tội Trộm cắp tài sản của công dân theo Bản án số 118/1998/HSST; ngày 26-4-2002 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 10 năm tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 56/HSST; ngày 18-8-2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn xử phạt 08 năm tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 112/2011/HSST (đều đã được xóa án tích); bị tạm giữ từ ngày 04-6-2024, tạm giam từ ngày 07-6-2024 đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Bạch H, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn H, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Đinh Văn K1; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 04-6-2024 tại khu vực đường N, phường T, thành phố L, Công an thành phố L phát hiện bắt quả tang bị cáo Lê Kinh K đang thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật, đồ vật thu giữ gồm: 01 (một) gói giấy màu trắng có dòng kẻ (kích thước 1,5cm x 0,8 cm) bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen, biển kiểm soát 12P1–231.23, số máy JC43E-0879625; số khung RLHJC4305BY008985, xe cũ đã qua sử dụng, 01 (một) bơm kim tiêm chưa qua sử dụng, 03 (ba) lọ nước cất Novocain. Qua xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể xác định Lê Kinh K dương tính với chất ma túy MOR.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Kinh K nhưng không thu giữ đồ vật liên quan gì.

Kết luận giám định số 647/KL-KTHS ngày 06-6-2024 của Phòng K2 Công an tỉnh L xác định: Chất bột màu trắng đã thu giữ là chất ma túy Heroin có khối lượng 0,108 gam (đã trừ bì).

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Lê Kinh K khai nhận: Bị cáo là đối tượng sử dụng chất ma túy từ năm 1995. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 04-6-2024 bị cáo điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen, biển kiểm soát 12P1 – 231.23 đi từ nhà đến khu vực đoạn đường B, phường H gặp và mua với một người đàn ông tên H1 (không rõ địa chỉ cụ thể) 100.000 (một trăm nghìn) đồng được một gói ma túy Heroin. Bị cáo cất giấu vào trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe môtô theo đường N, phường T, thành phố L để tìm nơi sử dụng, đến khu vực trước nhà số A, đường N, phường T, thành phố L thì bị lực lượng Công an đến bắt giữ như đã nêu trên.

Cáo trạng số 112/CT-VKS ngày 27-8-2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lê Kinh K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Kinh K thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.

2

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bà Lê Bạch H trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Bà là em gái của bị cáo. Chiếc xe mô tô Honda Vision, màu đen, biển kiểm soát 12P1 – 231.23 do bà mua tặng bị cáo Lê Kinh K vào năm 2019 bằng hình thức trả góp, mục đích để bị cáo phục vụ đi lại sinh hoạt hàng ngày và quan trọng là phục vụ đưa đón mẹ già vì chỉ có bị cáo ở với mẹ. Nay bà đề nghị cơ quan có thẩm quyền cho bà xin lại chiếc xe máy trên. Tại phiên tòa, bà trình bày, chiếc xe trên bà đã mua tặng bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Kinh K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 16 tháng đến 18 tháng tù; không áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự phạt bổ sung đối với bị cáo; áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy chất ma túy là mẫu vật sau giám định, 01 (một) bơm kim tiêm chưa qua sử dụng, 03 (ba) lọ nước cất N; trả lại bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Honda Vision, màu đen, biển kiểm soát 12P1-231.23, số máy JC43E-0879625 ; số khung RLHJC4305BY008985, xe cũ đã qua sử dụng; căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, danh mục án phí, lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo xin được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình, xã hội và thay đổi, trở thành người có ích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng; giải thích, hướng dẫn bị cáo về quyền tiếp cận trợ giúp pháp lý, quyền nhờ người bào chữa theo quy định. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng đã được thực hiện là hợp pháp.
  2. Về thủ tục tố tụng: Ông Đinh Văn K1 là người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  3. 3

  4. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận bản thân bị cáo sử dụng ma túy từ năm 1995. Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 04-6-2024, bị cáo gặp và mua với một người đàn ông tên H1 (không rõ họ, địa chỉ) 100.000 đồng được 01 gói ma túy Heroin, đang tìm nơi sử dụng thì bị bắt giữ. Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 0,108 gam ma túy Heroin (đã trừ bì). Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và vật chứng thu giữ được. Do đó, có đủ cơ sở xác định bị cáo Lê Kinh K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
  5. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy rằng hành vi mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự xã hội tại địa phương, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Việc bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy còn là hành vi vi phạm Luật Phòng, chống ma túy, tự hủy hoại sức khỏe của bản thân và đó cũng là nguyên nhân gián tiếp gây ra tệ nạn xã hội và các tội phạm khác.
  6. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  7. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố đẻ của bị cáo là ông Lê Kinh D, mẹ đẻ của bị cáo là bà Bạch Kim L đều được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  8. Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị kết án nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân. Do đó, đánh giá bị cáo có nhân thân không tốt.
  9. Từ những nhận định trên, thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng mà giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.
  10. Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  11. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo tại khu vực đường B, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa làm rõ được để xử lý. Kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ người đàn ông này.
  12. Mẫu vật đã giám định đựng trong 01 (một) phong bì đã niêm phong là chất ma túy, là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ; 01 (một) bơm kim tiêm chưa qua sử dụng, 03 (ba) lọ nước cất Novocain là vật không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; 01 xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Honda Vision, màu đen, biển kiểm soát 12P1-231.23, số máy JC43E-0879625; số khung RLHJC4305BY008985, xe cũ đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo, cần trả lại cho bị cáo.
  13. 4

  14. Đối với ý kiến của bà Lê Bạch H tại Cơ quan điều tra, bà đề nghị xin lại chiếc xe nhãn hiệu Honda Vision, màu đen, biển kiểm soát 12P1–231.23 là không có cơ sở. Bởi lẽ, chiếc xe trên bà đã tặng lại cho bị cáo, giấy tờ xe mang tên bị cáo. Trường hợp bà và bị cáo có tranh chấp với nhau về tiền mua xe thì có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự. Tại phiên tòa bà thay đổi ý kiến, xác định bà đã tặng bị cáo chiếc xe trên nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe trên cho bị cáo. Đề nghị của bà Lê Bạch H tại phiên tòa là có căn cứ và đúng quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  15. Về án phí: Bị cáo Lê Kinh K là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  16. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn phù hợp, đúng với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
  17. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 47, 50 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào Điều 296, khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Kinh K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Kinh K 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04-6-2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  3. Về xử lý vật chứng

    Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật là chất ma túy còn lại sau giám định đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong; 01 (một) bơm kim tiêm chưa qua sử dụng, 03 (ba) lọ nước cất Novocain.

    5

    Trả lại bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Honda Vision, màu đen, biển kiểm soát 12P1-231.23, số máy JC43E-0879625 ; số khung RLHJC4305BY008985, xe cũ đã qua sử dụng.

    (Vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27-8-2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn).

  4. Án phí: Bị cáo Lê Kinh K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND TP.Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Công an TP.Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - CQTHAHS CATP.Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - CCTHADS TP.Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Thị Nhàn

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 116/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LÊ KINH KỲ - TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger