|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 116/2024/HSST
Ngày: 11/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Trinh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Ngọc Bích
2. Bà Hồ Thị Kim Luyến
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hải Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 106/2024/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 647/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Lê Quốc B (có mặt) Sinh ngày 06/11/2002; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Cần Thơ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Nơi thường trú: Số 2/22, Cách Mạng Tháng Tám, phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Chỗ ở: Số 41/31, Nguyễn Trãi, phường Thới Bình, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Họ và tên cha: Nguyễn Thành T sinh năm 1974.
Họ và tên mẹ: Lê Thị Hồng N sinh năm 1978.
Anh chị em ruột: 01 người, sinh năm 2009.
Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: Không. Tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/4/2024, chuyển tạm giam ngày 27/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận N.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Xuân N1 sinh năm 2006
Địa chỉ: Số B, khu vực Y, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 18 giờ 35 phút ngày 18/4/2024 tổ Phòng chống tội phạm – Công an phường T đã phát hiện và tiến hành khám xét khẩn cấp đối với Nguyễn Lê Quốc B khi B đang điều khiển xe mô tô đến trước số H, B, phường T, quận N. Qua khám xét thu giữ tang vật gồm: 01 Tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng được gấp lại nhiều lần, bên trong có 01 gói nilon trong suốt, hàn kín. Bên trong gói nilon chứa tinh thể không màu dạng hạt (thu trong túi quần phía sau, bên phải của B đang mặc). 01 xe mô tô hiệu Honda, loại VARIO 150, màu trắng, biển số 65B2-430.98.
Tại bản kết luận giám định số 108/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Phòng K - Công an thành phố C kết luận: Tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Methaphetamine, khối lượng 0,1090 gam.
Tiếp tục khám xét nơi ở của bị cáo tại số D, N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ thu giữ trong ngăn kéo ở bàn máy may trong phòng ngủ của bị cáo: 01 vỏ hộp thuốc lá nhãn hiệu Hero đã qua sử dụng, bên trong có đựng 01 gói nilon trong suốt được hàn kín, bên trong gói nilon có chứa tinh thể không màu dạng hạt, bên ngoài gói nilon được quấn bằng băng keo màu xanh lá cây.
Tại bản kết luận giám định số 109/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Phòng K - Công an thành phố C kết luận: Tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Methaphetamine, khối lượng 0,0864 gam.
Trong quá trình điều tra, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo khai nhận: Vào khoảng 18 giờ ngày 18/4/2024 bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 65B2-430.98 đi giao trà sữa giúp chị Nguyễn Thị Xuân N1 (sống chung như vợ chồng với bị cáo), trên đường đi bị cáo đã chạy xe đến dạ cầu Q thuộc phường T, quận N, liên hệ đối tượng tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua gói ma túy giá 400.000 đồng về sử dụng. khi mua được gói ma túy, bị cáo gói ma túy trong tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng cất vào túi quần phía sau bên phải quần đang mặc rồi điều khiển xe đi giao trà sữa cho khách đường B (sau lưng tòa nhà Vincom H thuộc phường T, quận N, thành phố Cần Thơ) thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt giữ. Sau đó lực lượng Công an kiểm tra còn thu giữ gói ma túy cất giấu trong hộc tủ bàn máy may tại nhà số D, N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. Tất cả 02 gói ma túy bị thu giữ là của bị cáo mua để sử dụng cho bản thân.
Đối với đối tượng tên T1 bán trái phép chất ma túy cho bị cáo, do bị cáo khai không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý khi đủ căn cứ.
Đối với xe mô tô hiện Honda, loại VARIO 150, màu trắng, biển số 65B2-430.98. Qua xác minh hiện xe này thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị Xuân N1. Chị N1 giao xe cho bị cáo để làm phương tiện đi giao trà sữa. Việc bị cáo sử dụng xe thực hiện hành vi phạm tội chị N1 không biết. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho chị N1.
Tại bản cáo trạng số 120/CT-VKSNK ngày 19 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Nguyễn Lê Quốc B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo tội danh và điều khoản đã nêu trong cáo trạng số 120/CT-VKSNK ngày 19 tháng 6 năm 2024. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các biên bản có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo đã có hành tàng trữ trái phép chất ma túy có tổng khối lượng 0,1954 gam loại Methemphetamin, nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 108/KL-KTHS và 01 gói niêm phong số 108/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an thành phố C.
Ghi nhận Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô biển số 65B2 – 430.98 cho chị Nguyễn Thị Xuân N1.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan Công an và Viện kiểm sát đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra vụ án. Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận những chứng cứ buộc tội của Viện kiểm sát và đề nghị của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Vào lúc 18 giờ 35 phút, ngày 18/4/2024 bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại trước số H, B, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt giữ cùng tang vật là ma túy. Tiếp tục khám xét nơi ở của bị cáo tại số D, N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ Cơ quan điều tra thu giữ trong ngăn kéo ở bàn máy may trong phòng ngủ của bị cáo tang vật là ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 108/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Phòng K - Công an thành phố C kết luận: Tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Methaphetamine, khối lượng 0,1090 gam.
Tại bản kết luận giám định số 109/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Phòng K - Công an thành phố C kết luận: Tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Methaphetamine, khối lượng 0,0864 gam.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ số ma túy bị thu giữ là của bị cáo. Mục đích bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là để sử dụng cá nhân. Bị cáo tàng trữ trái phép ma túy có tổng khối lượng 0,1954 gam, loại Methaphetamine.
Xét thấy bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo hiểu biết tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng nhưng thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Pháp luật nghiêm cấm mọi việc tàng trữ, vận chuyển và mua bán đối với các chất ma túy. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý thể hiện ý thức pháp luật kém. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Do đó, cần một hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo. Đồng thời cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Về nhân thân: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cân nhắc, xem xét đến tính chất, mức độ thực hiện tội phạm và hậu quả xảy ra cũng như nhân thân của bị cáo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về xử lý vật chứng:
Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Ghi nhận Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô biển số 65B2 – 430.98 cho chị Nguyễn Thị Xuân N1.
Gói niêm phong số 108/KL-KTHS và gói niêm phong số 109/KL-KTHS cùng ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an thành phố C là hàng cấm nên phải tịch thu tiêu hủy.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/6/2024 giữa Công an quận N và Chi cục Thi hành dân sự N2).
[5] Về án phí hình sự sơ thẩm:
Bị cáo Nguyễn Lê Quốc B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lê Quốc B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Lê Quốc B 01 năm 06 tháng (Một năm sáu tháng) tù giam, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/4/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Ghi nhận Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô biển số 65B2 – 430.98 cho chị Nguyễn Thị Xuân N1.
Tịch thu tiêu hủy: Gói niêm phong số 108/KL-KTHS và gói niêm phong số 109/KL-KTHS cùng ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an thành phố C.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/6/2024 giữa Công an quận N và Chi cục Thi hành dân sự N2).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Lê Quốc B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Trinh |
Bản án số 116/2024/HSST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 116/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
