|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 116/2024/HSST Ngày: 09/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH – TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Lan Hương
- Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Xuân Giao và bà Nguyễn Thị Lan
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: bà Bùi Thái Bình - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên toà:
Bà Ngô Thị Mai Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân (TAND) Thành phố (TP) Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 109/2024/HSST ngày 09/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST- HS ngày 26/8/2024 đối với:
Bị cáo: Bùi Ngọc L, sinh ngày 16/3/2004; ĐKHKTT và chỗ ở hiện tại: Tổ dân phố N, phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn B; con bà Nguyễn Thanh T (đã chết); Vợ, con: Không; Là con duy nhất trong gia đình.
Tiền sự, tiền án: Không;
Về nhân thân:
- - Quyết định số 203/QĐ-XPHC ngày 20/9/2021; Công an T1, tỉnh Hòa Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Trộm cắp tài sản bằng hình thức xử phạt tiền 750.000 đồng. Bị cáo đã chấp hành xong.
- - Bản án số 55/2021/HSST ngày 28/12/2021 của TAND Huyện Mai Châu xử phạt 08 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản, thời gian thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo đã chấp hành án xong và được xóa án tích.
Trong vụ án này, bị cáo đang bị giam giữ tại Nhà tạm giữ Công an T1 từ ngày 24/5/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: anh Nguyễn Thanh S, sinh ngày 14/6/2008
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1977
Cùng cư trú tại: Tổ A, phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình (là mẹ đẻ). Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Hồng P, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Tổ A, phường D, TP H, tỉnh Hòa Bình. Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 23/5/2024, Bùi Ngọc L điều khiển xe mô tô đến nhà Nguyễn Thanh S đón S đi chơi. Khoảng 10 giờ 00 phút thì L chở S về nhà. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, L điều khiển xe một ô đến nhà S, thấy cổng không khóa, L mở cửa đi vào phòng ngủ của S, L thấy sơn đang ngủ, gần chiếc gối có chiếc điện thoại di động Iphone XS màu vàng của S. L cầm lấy chiếc điện thoại đút vào trong túi quần bên trái đi ra điều khiển xe mô tô đến khu vực quán C thuộc Khu dân cư T, Phường T để kết nối mạng Wifi của quán; L gọi điện thoại cho anh Trần Hồng P, bán chiếc điện thoại trên cho anh P được số tiền 2.820.000 đồng. Chi tiêu hết.
Ngày 24/5/2024, L đến Cơ quan CSĐT Công an T1 đầu thú.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 102/KL- HĐĐGTS ngày 28/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự kết luận: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone XS, màu: Vàng; Số máy: MT8W2LL/A; Seri: C39Z2299KPFR; số Imei: 356174096388262, tình trạng đã qua sử dụng; trị giá 3.500.000₫ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) ( BL số 40).
- - Vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone XS, màu: Vàng, tình trạng đã qua sử dụng theo quy định.
- - Trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
- - Đối với anh Trần Hồng P khi mua lại chiếc điện thoại không biết đây là tài sản do bị cáo trộm cắp nên Cơ quan CSĐT không xử lý.
Cáo trạng số 110/CT - VKS TPHB ngày 09/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) TP H đã truy tố Bùi Ngọc L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 - Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (BLHS).
Tại phiên toà: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét áp dụng cho bị cáo mức án thấp nhất.
Đại diện VKSND TP Hòa Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Bùi Ngọc L mức án từ 10 tháng tù đến 12 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 24/5/2024; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an T1 đã trả lại cho chủ sở hữu tài sản chiếc điện thoại nêu trên (Biên bản ngày 28/6/2024). Bị hại không yêu cầu gì nữa nên đề nghị HĐXX không đề cập giải quyết về trách nhiệm dân sự.
Trước khi mở phiên tòa, anh Trần Hồng P có đơn trình bày không yêu cầu giải quyết số tiền anh P đã bỏ ra mua chiếc điện thoại từ Bùi Ngọc L trong vụ án này.
Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của CQCSĐT: Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh và hình phạt: Lời khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung Cáo trạng của VKSND TP Hòa Bình đã truy tố; phù hợp vật chứng đã thu giữ được và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định được: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 23/5/2024, Bùi Ngọc L đến nhà của Nguyễn Thanh S, lợi dụng không có ai để ý đã lén lút lấy chiếc điện thoại Iphone XS màu vàng của anh S mang đi bán được 2.820.000 đồng chi tiêu cá nhân hết.
Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Ngọc L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 - BLHS như Cáo trạng của VKSND TP Hòa Bình truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo thấy rằng:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng, gây mất trật tự an ninh ở địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý, mục đích vụ lợi nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Trộm cắp tài sản là một tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống xã hội và là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác. Cần phải áp dụng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Nhân thân bị cáo đã từng bị TAND xét xử về tội Trộm cắp tài sản mới được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn phạm tội nên cần phải có mức hình phạt phù hợp và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành công dân bình thường.
Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS;
Khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét: bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo (Là tình tiết giảm nhẹ TNHS theo Điểm s Khoản 1 Điều 51 – BLHS); bị cáo đầu thú (là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Khoản 2 Điều 51 – BLHS) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định của pháp luật.
[3] Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT đã xử lý trả lại bị hại 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone XS, màu: Vàng – như vậy là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm dân sự: không ai có yêu cầu. HĐXX không đề cập giải quyết.
[5] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 1 Điều 174; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Khoản 2 Điều 47 của BLHS; Điểm b Khoản 3 Điều 106 – Bộ luật TTHS; Khoản 2 Điều 136; Điều 326; 327; Điều 331; 332; 333 Bộ luật TTHS; Khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc L 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/5/2024.
- Xử lý vật chứng:
Xác nhận bị hại đã nhận lại: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone XS, màu: Vàng. - Về Trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu, HĐXX không đề cập giải quyết trong vụ án.
- Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày để xét xử theo trình tự phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo của bị cáo có mặt tại phiên tòa tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; thời hạn kháng cáo của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa được tính từ ngày được cấp/tống đạt hợp lệ Bản án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn nêu trên kể từ ngày được cấp/tống đạt hợp lệ Bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đinh Lan Hương |
Bản án số 116/2024/HSST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH – TỈNH HÒA BÌNH về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 116/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH – TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
