Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 116/2024/HS-PT

Ngày: 07/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hoài

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Công Hoàn

Ông Đỗ Mạnh Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thái Phương - Thư ký Tòa án nhân dân

tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:

Bà Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường tổ dân phố Tổ F, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 87/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn T; do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng.

* Bị cáo kháng cáo: Nguyễn T, sinh năm: 1989, tại: Quảng Ngãi; nơi ĐKHKTT và chỗ ở : Thôn B, xã Q, huyện C, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ học vấn: 6/12; con ông: Nguyễn T1; con bà: Nguyễn Thị K; vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1990; con: 02 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt

Trong vụ án này, còn có những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 ngày 21/7/2023, Nguyễn T điều khiển chiếc xe môtô biển kiểm soát: 49N1- 113.97 đi trên đường Đ hướng từ huyện Đ về nhà ở Thôn B, xã Q, huyện C, tỉnh Lâm Đồng với tốc độ khoảng 48 – 50km/h. Khi đến Km 28 + 450 đoạn đường ĐT 721, thuộc địa phận thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng thì gặp xe gắn máy, biển kiểm soát 49AM- 008.40 do ông Nguyễn Ngọc M điều khiển đi cùng chiều phía trước với tốc độ chậm hơn (khoảng 35 – 40km/h). Sau đó, Nguyễn T điều khiển xe mô tô vượt qua xe gắn máy của ông M về phía bên trái nhưng không phát tín hiệu báo trước để xin vượt. Khi xe mô tô của T còn cách phía sau xe của ông M khoảng 05m thì ông M đột ngột rẽ trái, phía trước đầu xe mô tô của Nguyễn T mà không phát tín hiệu báo trước. Do đó, Nguyễn T không xử lý kịp nên đầu xe của T đã tông vào phía sau bên trái xe của ông M, làm 02 xe cùng mất thăng bằng ngã xuống đường. Sau đó, Nguyễn T và ông M được đưa vào Trạm y tế xã Đạ Lây sơ cứu, T chỉ bị sây sát đã tỉnh lại, còn ông M bị thương nặng được chuyển ra Trung tâm y tế ĐạTẻh cấp cứu nhưng đã tử vong.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Đoạn đường xảy ra tai nạn giao thông là Km 28+450 đường ĐT 721, thuộc địa phận thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Đường thẳng, mặt đường trải nhựa rộng 7,55m, bằng, phẳng, ướt. Hai bên đường là lề cỏ, đất. Giữa đường có vạch sơn kẻ nét đứt, màu vàng phân chia đường thành hai chiều xe chạy, hai bên mép của phần đường nhựa có vạch sơn kẻ nét liền màu trắng nhưng đã mờ. Khu vực hiện trường có biển giao thông giao nhau với đường không ưu tiên. Trên mặt đường có 02 vết cà xước do tai nạn giao thông gây ra; xe gắn máy biển kiểm soát 49AM- 008.40; xe mô tô biển kiểm soát 49N1- 113.97 đổ trên mắt đường và mảnh nhựa vỡ của xe mô tô.

Chọn hướng khám nghiệm từ huyện Đ vào huyện C; trụ điện ký hiệu: BTLÐ PC.I 12-190 5.4 ở lề đường bên phải theo hướng khám nghiệm làm điểm mốc hiện trường; mép đường bên trái theo hướng khám nghiệm làm đường chuẩn ghi nhận vị trí các dấu vết phương tiện như sau:

  1. Vết cà xước trên mặt đường ở phần đường bên phải, dài 4,18m, rộng 0,03m. Điểm đầu vết cách mép đường chuẩn là 4,2m, cách điểm mốc là 36,8m; điểm cuối kết thúc tại cảng phía sau bên trái xe gắn máy biển kiểm soát 49AM- 008.40, cách mép đường chuẩn là 4,45m.
  2. Vết cà xước trên mặt đường ở phần đường bên phải, dài 1,65m, rộng 0,01m. Điểm đầu vết cách mép đường chuẩn là 5,5m, cách điểm mốc là 36,9m. điểm cuối cách mép đường chuẩn là 5,05m
  3. Xe gắn máy, biển kiểm soát 49AM- 008.40 đổ nghiêng bên trái xe nằm quay ngang trên mặt đường bên phải. Đầu xe hướng về mép đường bên phải, đuôi xe hướng vào giữa đường. T2 bánh xe sau cách mép đường chuẩn là 4,73m, cách điểm đầu vết (2) là 3,9m, cách điểm mốc hiện trường 40,69m; tâm bánh xe trước cách mép đường chuẩn là 5,96m.
  4. Mảnh nhựa màu vàng đen không rõ hình dạng kích thước: 0,6 x 0,32m trên mặt đường bên trái. T2 mảnh nhựa cách mép đường chuẩn là 2,4m, cách tâm bánh sau xe (3) là 7,62m.
  5. Xe mô tô, biển kiểm soát 49N1- 113.97 đổ nghiêng bên trái xe nằm dọc trên mặt đường bên trái. Đầu xe hướng về huyện Đ, đuôi xe hướng về huyện C. T2 bánh xe trước cách mép đường chuẩn là 2,87m, cách tâm mảnh nhựa (4) là 1,25m. T2 bánh xe sau cách mép đường chuẩn là 2,63m.

Với kết quả khám nghiệm hiện trường như trên xác định: 02 xe va chạm với nhau ở phần đường bên phải theo hướng di chuyển của 02 xe. Sau khi va chạm xe gắn máy 49AM- 008.40 của ông M đổ nghiêng ở phần đường bên phải; các dấu vết do xe gắn máy của ông M tạo ra trên mặt đường khi ngã đổ (vết cà xước (01) và (02) trên mặt đường) có điểm đầu cách mép đường bên trái là 4,2m và 5,5m. Với chiều rộng lòng đường là 7,55m thì các vết cày nằm hoàn toàn ở phần đường bên phải, cách tim đường từ 0,425m đến 1,725m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện xác định:

- Khám nghiệm phương tiện là chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 49N1- 113.97 ghi nhận: Gương chiếu hậu bên phải không có; gương chiếu hậu bên trái bị bể vỡ kính, cần gương chiếu hậu bị cà xước kích thước (0,015 x 0,017)m; Ốp gương chiếu hậu bên trái bị cà xước; Mặt trước đầu tay thắng bị mài mòn; mặt trước đầu tay lái bên trái có vết cà xước kích thước (0,02 x 0,007)m; nắp trước tay lái bên trái bị mài mòn kích thước (0,04 x 0,005)m; Nắp hai bên tay lái bị bung chốt; ốp nhựa màu đen tay lái bên trái bị cà xước kích thước (0,03 x 0,01)m, có vết nứt tại vị trí công tắc đèn cốt pha chiếu sáng phía trước; yếm phía trước bên trái bị bung ốc và bị mài mòn kích thước (0,038 x 0,01)m, tâm cách mặt đất 0,715m; yếm bên phải phía trước bị gãy bể chốt bung ra ngoài; ốp nhựa đèn xi nhan và đèn xương mù bên phải bị vỡ; đầu chắn bùn phía trước bên trái có vết mài mòn kích thước (0,06 x 0,008)m; đĩa phanh bánh trước có vết cà xước dài 0,1m, đĩa thắng tại vị trí có vết xước bị vênh (quay vị trí địa thắng có vết xước đến bố thắng thì bị kẹt); vành xe trước bị vênh, bên phải có một vết mài mòn kích thước (0,018 x 0,003)m và hai vết cà xước, cách vết xước trên đĩa thắng 0,1m, tâm cách van xe 0,06m; ốp cao su giá để chân phía trước bên trái bị bung phần đầu ra khỏi lõi kim loại. Đầu kim loại giá để chân bị cong từ dưới lên trên và bị cà xước; đầu thanh kim loại màu vàng gắn trên giá để chân phía sau bên trái bị mài mòn; giá để chân phía sau bên trái bị cong theo hướng từ trước ra sau và có phần đầu bị mài mòn kích thước (0,01 x 0,006)m; mặt ngoài ốp sườn bên trái có vết mài mòn kích thước (0,07 x 0,01)m, tâm cách mặt đất là 0,75m; M1 ngoài tay cầm phía sau bên trái có vết cà xước, mài mòn kích thước (0,05 x 0,01)m; giá để chân phía trước bên phải bị cong một góc 60° theo hướng từ trước ra sau. Mặt trước phần kim loại giá để chân bị cà xước; Ốp nhựa màu vàng đuôi ống xả bị nứt vỡ.

- Khám nghiệm phương tiện là chiếc xe gắn máy hai bánh, biển kiểm soát: 49AM-008.40 ghi nhận: Gương chiếu hậu bên phải không có; gương chiếu hậu bên trái bị bể vỡ kính; cụm đèn chiếu phía trước bị rơi ra ngoài còn dính dây điện; đèn xi nhan trước bên trái bị lún vào ổ đèn; mặt trước ốp nhựa đèn xi nhan phía trước bên trái bị cà xước; ốp tay lái bên trái tại vị trí trên đèn xi nhan có vết mài mòn kích thước (0,05 x 0,005)m; đầu ốp cao su tay lái bên trái có vết rách, mài mòn kích thước (0,05 x 0,025)m; giỏ xe bị móp từ trái qua phải, tại vị trí móp có nhiều vết trầy xước nhựa bọc. Mặt ngoài mép trên giỏ có nhiều vết cà xước, mài mòn dài 0,195m; chắn bùn phía trước bị vênh từ trái qua phải; yếm phía trước bên trái bị nứt vỡ dài 0,21m; giá để chân phía trước bên trái bị mất ốp cao su. Phần lõi kim loại bị cong từ trên xuống dưới, từ sau ra trước; chân chống bị gãy rơi ra ngoài; giá đỡ giá để chân phía sau bên trái bị cong từ trước ra sau; đèn xi nhan phía sau bên trái bị gãy rời còn dính dây điện; đèn xi nhan phía sau bên phải bị vỡ bóng đèn và ốp nhựa bảo vệ; đèn báo hãm phía sau bị bể vỡ hoàn toàn; Khung kim loại bảo vệ đèn báo hãm bị cong vênh cà xước; Khung kim loại bảo vệ đèn xi nhan phía sau bên trái bị gãy mối hàn rơi ra ngoài.

Kết quả khám nghiệm phương tiện như trên xác định: Bánh trước bên phải xe mô tô, biển kiểm soát 49N1- 113.97 của Nguyễn T đã va chạm mạnh vào chân chống và gác để chân phía trước bên trái xe gắn máy, biển kiểm soát 49AM- 008.40 của ông M.

Kết luận giám định pháp y xác định: Ngày 28/7/2023, Trung tâm pháp y tỉnh L đã có bản kết luận giám định tử thi số 123-23/KLGĐTT-PYLĐ xác định: Trên người ông M có nhiều vết xây xát, bầm tím, tụ máu, trong đó có 01 vết sây sát ở vùng thắt lưng trái cách gót chân 105cm; bị tụ máu vùng chẩm, nứt sọ chẩm. Kết luận nguyên nhân chết của ông M do: Chấn thương sọ não.

Quá trình điều tra xác định, bị can Nguyễn T không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Đồng thời, theo kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Nguyễn T, tại biên bản số 01211 ngày 21/7/2023 xác định: nồng độ cồn có trong hơi thở của Nguyễn T là 0,57 miligam/1lít khí thở. Vì vậy, Nguyễn T điều khiển phương tiện có sử dụng rượu, bia.

Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, khám nghiệm tử thi, kết luận giám định pháp y đối với Nguyễn Ngọc M đã chết do chấn thương sọ não và lời khai nhận của Nguyễn T xác định, Cơ quan điều tra xác định nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông là do: Nguyễn T không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định; điều khiển xe mô tô khi có nồng độ cồn vượt 0,25 miligam/1 lít khí thở (0,57 miligam/1 lít khí thở); điều khiển xe mô tô vượt qua phương tiện giao thông khác nhưng không phát tín hiệu báo trước, chưa được sự nhường đường (tránh về bên phải) của xe phía trước. Hành vi trên của Nguyễn T đã vi phạm khoản 8, 9 Điều 8 và Điều 14 của Luật Giao thông đường bộ.

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSĐT ngày 06/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Tẻh truy tố bị cáo Nguyễn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2024/HS-ST ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/4/2024, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại nội dung bản án sơ thẩm, khai nhận hành vi như bản án sơ thẩm đã xét xử; đồng thời giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như bản án sơ thẩm quy kết. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tất cả các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17 giờ 00 ngày 21/7/2023, bị cáo đã sử dụng rượu, bia và không có giấy phép lái xe theo quy định nhưng điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 49N1- 113.97 đi theo hướng thị trấn Đ vào huyện C. Khi đến đoạn đường ĐT 721, thuộc địa phận thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Do bị cáo điều khiển xe mô tô vượt không đảm bảo nên đã tông vào xe gắn máy, biển kiểm soát 49AM- 008.40 do ông Nguyễn Ngọc M điều khiển phía trước. Hậu quả, ông M bị thương nặng được chuyển ra Trung tâm y tế Đ cấp cứu thì tử vong.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn T về tội “Vi phạm quy đinh về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo xin được hưởng án treo thấy rằng; Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; trong vụ án này cũng có một phần lỗi của bị hại nên đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự, để xử phạt bị cáo mức án 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù (dưới khung hình phạt) là đã có sự xem xét. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Hiện nay, tình hình tội phạm vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ xảy ra ngày càng phức tạp, bị cáo gây tai nạn làm chết người. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đại diện Viện kiểm sát tỉnh Lâm Đồng đề nghị là phù hợp.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn T; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Vụ GĐKT I – TANDTC (01);
  • - Phòng KTNV&THA (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01)
  • - TAND huyện Đạ Tẻh (02);
  • - VKSND huyện Đạ Tẻh (01);
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Đạ Tẻh (01);
  • - Cơ quan THAHS huyện Đạ Tẻh (01);
  • - PV06 – Công an tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Bị cáo (01);
  • - Văn phòng TAND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Lưu hồ sơ, Án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Hoài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2024/HS-PT ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 116/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trà - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger