|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 116/2024/HS-ST Ngày: 06-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Xuân Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hà Văn Tôn
- Ông Đặng Minh Thảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 91/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Đào Mạnh D
(tên gọi khác: không có), sinh ngày 16 tháng 9 năm 1997 tại Thái Nguyên; nơi thường trú: tổ dân phố T, phường N, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp trước khi phạm tội: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Thái H và bà Nguyễn Thị H1; có vợ là Trần Dung M (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2019;
Tiền án: Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) P xử phạt Đào Mạnh D 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 143/2021/HSST ngày 12/11/2021. Bị cáo chưa chấp hành xong án phí, tiền truy thu.
Tiền sự: Không.
Bị can bị bắt tạm giam từ ngày 16/3/2024 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
- Bị hại:
- Anh Lê Phi C, sinh năm: 1996; địa chỉ: xóm T, xã V, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Anh Nông Văn H2, sinh năm: 2002; địa chỉ: xóm L, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đào Thái H, sinh năm 1975; địa chỉ: tổ dân phố T, phường N, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Lê Thành V, sinh năm: 1966; địa chỉ: phố B, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
- Bà Tạ Thị B, sinh năm: 1985; địa chỉ: tổ dân phố B, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 04/3/2024, Đào Mạnh D đang chơi game tại quán G thuộc xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thì anh Lê Phi C (sinh năm 1996; trú tại xóm T, xã V, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên là bạn của D) liên lạc qua ứng dụng M1 để hỏi vay tiền, D đồng ý và bảo anh C đến quán G để đón D. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, anh C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 20H1-409.48 đến địa điểm đã hẹn đón D. Trên đường đi, D nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản là chiếc xe mô tô của anh C nên D bảo anh C chở đến khu vực gần nhà máy Z thuộc tổ dân phố Đ, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để lấy tiền cho anh C vay. Đến nơi, D bảo anh C đứng đợi và cho D mượn xe để đi vào nhà bạn lấy tiền, anh C tin tưởng và giao chiếc xe mô tô trên cho D. D lên xe và điều khiển xe đi đến quán K thuộc tổ dân phố A, phường B, thành phố P, Thái Nguyên và cầm cố chiếc xe này cho Trần Hiển T (sinh năm 1998; trú tại tổ dân phố T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên - là chủ quán King Game) được 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Sau khi cầm cố chiếc xe mô tô của anh C được số tiền trên, D đi taxi đến tỉnh Hưng Yên chơi điện tử và tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi sử dụng hết số tiền từ việc cầm cố xe mô tô của anh Lê Phi C, đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 06/3/2024, khi đang ở Hưng Yên, D liên lạc qua zalo với anh Nông Văn H2 (sinh năm 2002; trú tại xóm L, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên là xe ôm công nghệ) để thuê anh H2 chở D từ Phố N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên về thành phố P, tỉnh Thái Nguyên thì anh H2 đồng ý. Anh H2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, biển kiểm soát 20F1-634.36 (trong cốp xe có để 01 giấy phép lái xe, 01 căn cước công dân, 01 đăng ký xe mô tô và các giấy tờ liên quan đến xe mô tô, tất cả đều mang tên Nông Văn H2) đến địa điểm hẹn rồi đưa D về thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, D rủ anh H2 vào quán K1 do chị Tạ Thị B (sinh năm 1985) làm chủ thuộc tổ dân phố B, phường B, thành phố P, Thái Nguyên để hát và bảo anh H2 sau khi hát xong thì chở D về Hà Nội rồi D sẽ thanh toán tiền dịch vụ xe ôm, anh H2 đồng ý và vào quán Karaoke cùng D. Trong quá trình hát, D quan sát thấy anh H2 cất chìa khoá xe mô tô trong túi đeo, lợi dụng lúc anh H2 đi vệ sinh, D đã mở chiếc túi đeo của anh H2 đang để trong phòng hát và lấy được chìa khóa xe mô tô rồi cất vào túi quần. Khi anh H2 trở lại phòng hát, D lấy lý do ra ngoài nghe điện thoại rồi đi đến vị trí anh H2 để chiếc xe mô tô, lấy chìa khóa khởi động xe và điều khiển xe đến quán King Game và cầm cố chiếc xe này cho Trần Hiển T được 6.300.000 đồng (Sáu triệu ba trăm nghìn đồng). Số tiền trên D đã tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi phát hiện bị chiếm đoạt tài sản, ngày 06/3/2024, anh Lê Phi C và anh Nông Văn H2 đã làm đơn trình báo đến Công an phường B, thành phố P đề nghị giải quyết. Quá trình kiểm tra, xác minh, Công an phường B thu thập tài liệu, chứng cứ, tạm giữ 01 USB chứa video có nội dung liên quan đến vụ án do chị Tạ Thị B cung cấp và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen của Đào Mạnh D; sau đó bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo thẩm quyền.
Cơ quan điều tra đã tiến hành thu thập, xác định thông tin, đặc điểm của các tài sản bị Đào Mạnh D chiếm đoạt và đề nghị Hội đồng định giá tài sản thành phố P tiến hành định giá.
Tại Bản kết luận định giá số 27/KLĐG ngày 15/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố P kết luận: Xe mô tô hai bánh nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, màu sơn trắng đen đỏ, BKS 20H1-409.48, dung tích 149,8cm³, đăng ký tháng 08/2017, hiện trạng phương tiện trước khi bị chiếm đoạt còn nguyên vẹn và sử dụng bình thường. Giá trị còn lại của phương tiện là 13.650.000 đồng (Mười ba triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
Tại Bản kết luận định giá số 28/KLĐG ngày 15/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố P kết luận: Xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn đen bạc, BKS 20F1-634.36, dung tích 109cm³, đăng ký tháng 4/2021, hiện trạng phương tiện trước khi bị chiếm đoạt còn nguyên vẹn và sử dụng bình thường. Giá trị còn lại của phương tiện là 12.460.000 đồng (Mười hai triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiến hành cho anh Nông Văn H2 nhận dạng; đồng thời mở niêm phong, kiểm tra nội dung video trong USB đã tạm giữ. Kết quả, anh H2 nhận dạng và xác định Đào Mạnh D là đối tượng đã trộm cắp xe mô tô của anh H2; đồng thời Đào Mạnh D cũng xác nhận bản thân D là người xuất hiện trong video và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 06/3/2024. Quá trình điều tra, Đào Mạnh D đã khai nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và trộm cắp tài sản của bản thân. Lời khai của D phù hợp với lời khai của các bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra, D khai nhận đã cầm cố hai chiếc xe mô tô trên cho Trần Hiển T, việc cầm cố được thực hiện tại quán KingGame của T, có viết giấy dưới hình thức “Giấy vay tiền”, T là người giữ giấy vay tiền này. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa Đào Mạnh D với Trần Hiển T, tuy nhiên T không thừa nhận việc nhận cầm cố tài sản của D.
Về phần dân sự: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, ông Đào Thái H là bố đẻ của Đào Mạnh D đã bồi thường cho anh Nông Văn H2 8.000.000 đồng, bồi thường cho anh Lê Phi C 11.500.000 đồng. Anh H2 và anh C đã nhận đủ số tiền và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Đào Mạnh D.
Tại bản cáo trạng số 102/CT-VKSPY ngày 19/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Đào Mạnh D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đào Mạnh D về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38; Điều 48; Điều 55 Bộ luật hình sự, xử phạt Đào Mạnh D từ 12 - 15 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, 15 đến 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hình phạt theo quy định.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã bồi thường xong.
Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định: Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân và biết anh Lê Phi C đang có nhu cầu vay tiền nên khoảng 19 giờ 30 phút ngày 04/3/2024, tại khu vực tổ dân phố Đ, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Đào Mạnh D đã đưa ra thông tin gian dối là bản thân có tiền và mượn xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, màu sơn trắng đen đỏ, biển kiểm soát 20H1-409.48 của anh C để đi lấy tiền cho anh C vay nhằm lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe mô tô này trị giá 13.650.000 đồng (Mười ba triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Sau đó, khoảng 16 giờ 30 phút ngày 06/3/2024, tại tổ dân phố B, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Đào Mạnh D đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Nông Văn H2 là 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn đen bạc, biển kiểm soát 20F1-634.36 trị giá 12.460.000 đồng (Mười hai triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bản cáo trạng số 102/CT-VKSPY ngày 19/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo là có căn cứ. Nội dung điều luật quy định như sau:
“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...
Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”.
- [3] Xét các yếu tố về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về nhân thân: Bị cáo từng bị xử lý hình sự. Hội đồng xét xử nhận định bị cáo là người có nhân thân xấu.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại và được các bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
- [4] Về hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử lý hình sự nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục vi phạm pháp luật. Do vậy, cần áp dụng hình phạt tù giam, buộc bị cáo cải tạo tập trung một thời gian nhất định mới đảm bảo được tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt trong 02 vụ là tương đương nhau, nhưng bị cáo từng bị xử lý hình sự về tội Trộm cắp tài sản mà lần này tiếp tục phạm tội cùng loại tội do vậy hành vi trộm cắp tài sản phải bị xử phạt cao hơn hành vi lừa đảo. Khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thực sự ăn năn, hối cải, có ý thức tác động gia đình bồi thường thiệt hại và được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử cân nhắc cho bị cáo được hưởng hình phạt ở đầu mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp, có căn cứ được chấp nhận.
- [5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
- [6] Về trách nhiệm dân sự: Trước khi mở phiên toà bị cáo đã tác động gia đình bồi thường xong cho bị hại. Các bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [7] Về vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- [8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định.
- [9] Đối với Trần Hiển T theo Đào Mạnh D khai là người đã nhận cầm cố 02 chiếc xe mô tô trên, tuy nhiên quá trình điều tra không có căn cứ xác định T đã nhận cầm cố tài sản từ D nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với T là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 48; Điều 55 Bộ luật hình sự;
Căn cứ Điều 106; Điều 136; Điều 329; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Mạnh D phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: Xử phạt Đào Mạnh D 12 (Mười hai) tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 15 (Mười lăm) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về vật chứng: Trả lại cho Đào Mạnh D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen được đựng trong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu A2 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 20 tháng 6 năm 2024 giữa Công an thành phố P và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên.
- Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Đào Mạnh D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đào Mạnh D, ông Đào Thái H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Phi C và anh Nông Văn H2 có quyền kháng cáo trọng hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Xuân Lộc |
Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 116/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lừa đảo
