Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 05 - 12 - 2023
V/v: “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hồ Thị Lan
  2. Ông Nguyễn Văn Kền

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trung Nghĩa - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Linh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 12 năm 2023, tại Phòng xét xử Toà án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 278/2023/TLST – HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2023/QĐXX - ST ngày 07 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 235/2023/QĐST – HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu H, sinh năm 1989;

Nơi cư trú: tổ A, khu B, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Bùi Xuân T, sinh năm 1984;

ĐKHKTT: thôn C, xã T, thành phố H, Quảng Ninh.

Tạm trú: tổ G, khu A, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt lần thứ hai không có lý do (đã được triệu tập hợp lệ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Thu H yêu cầu Tòa án giải quyết những nội dung cụ thể sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Bùi Xuân T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 18/11/2011, tại Ủy ban nhân dân phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Trước khi kết hôn chưa ai có vợ, có chồng, có thời gian tìm hiểu trước khi kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh T không có trách nhiệm với vợ, con nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Tuy mâu thuẫn cũng được vợ chồng cùng cố gắng khắc phục, hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên bảo, hòa giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 07 năm 2021 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Đến nay, chị H thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã ly thân một thời gian dài nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Xuân T.

Về con chung: Chị H trình bày chị và anh T có 02 con chung là Bùi Việt A, sinh ngày 03/01/2016 và Bùi Huy H1, sinh ngày 08/11/2018. Chị H xác nhận chị và anh T đều có công việc và thu nhập ổn định, cũng như trách nhiệm như nhau trong việc nuôi dưỡng và chăm sóc con chung. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giao con chung Bùi Huy H1 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Bùi Việt A cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: không có, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, tại Bản tự khai, bị đơn anh Bùi Xuân T trình bày như sau: Anh và chị Trần Thị Thu H đăng ký kết hôn vào ngày 18/11/2011 tại Ủy ban nhân dân phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cãi vã do bất đồng quan điểm, cả hai vợ chồng đều đã cố gắng thay đổi để hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn trầm trọng hơn khi chị H đi lao động ở xa từ năm 2021 đến năm 2022, chị H trở về địa phương thì nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Tuy nhiên, thời điểm đó không hiểu lý do gì chị H rút đơn khởi kiện. Đến ngày 02/10/2023, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long tiếp tục thụ lý giải quyết ly hôn theo yêu cầu của chị H. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 7 năm 2021 đến nay, mỗi người sinh sống một nơi, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Anh T nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của chị H.

Về con chung: Anh T xác nhận anh và chị H có 02 con chung là Bùi Việt A, sinh ngày 03/01/2016 và Bùi Huy H1, sinh ngày 08/11/2018. Anh T đồng ý với quan điểm của chị H về việc đề nghị Tòa án giao con chung Bùi Việt A cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Bùi Huy H1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Vợ chồng không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh T trình bày anh và chị H không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã xác minh lấy ý kiến của tổ trưởng tổ G, khu A, phường G, thành phố H nơi anh T và chị H sinh sống trong quá trình hôn nhân và được cung cấp thông tin:

Chị Trần Thị Thu H và anh Bùi Xuân T là vợ chồng. Khoảng 03 năm gần đây, đại diện tổ dân phố không thấy anh chị còn chung sống với nhau, đại diện tổ dân được biết, chị H đã về mẹ đẻ tại phường G sinh sống. Quá trình sinh sống tại tổ dân phố, đại diện tổ dân được biết giữa anh chị cũng có những mâu thuẫn trong sinh hoạt vợ, chồng. Mâu thuẫn vì vấn đề gì cụ thể thì đại diện tổ dân phố không được biết. Vợ chồng chị H, anh T có 02 con chung là cháu Bùi Việt A và cháu Bùi Huy H1. Từ khi anh chị ly thân, cháu Bùi Việt A do anh T trực tiếp nuôi dưỡng; chị H là người trực tiếp chăm lo, nuôi dưỡng con chung Bùi Huy H1. Anh T, chị H sinh sống tại tổ dân luôn chấp hành tốt các quy định của pháp luật và có trách nhiệm, yêu thương con. Việc chị H, anh T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và yêu cầu người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, đại diện tổ dân phố đề nghị Tòa án căn cứ vào nguyện vọng của đương sự và quy định của pháp luật giải quyết.

* Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, theo quy định của pháp luật

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến nay, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn không chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật.

Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị Thu H. Chị H được ly hôn anh T.

Về con chung: đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung Bùi Việt A, sinh ngày 03/01/2016 cho anh Bùi Xuân T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); giao con chung Bùi Huy H1, sinh ngày 08/11/2018 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị H, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không đề cập.

Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Chị Trần Thị Thu H khởi kiện “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” đối với bị đơn anh Bùi Xuân T có nơi đăng ký thường trú tại: thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; tạm trú: tổ G, khu A, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về sự vắng mặt của các đương sự: quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giải thích quyền được trợ giúp pháp lý cho các đương sự. Nguyên đơn chị Trần Thị Thu H đã chấp hành các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời có Đơn đề nghị Tòa án không tiếp tục tiến hành hòa giải và Đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Bùi Xuân T mặc dù được nhận trực tiếp các văn bản tố tụng nêu trên của Tòa án nhưng vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất, lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là có căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thu H và anh Bùi Xuân T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G, thành phố H vào ngày 18/11/2011 (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 108; quyển số 01/2011 của UBND phường G). Đây là là hôn nhân hợp pháp, tiến bộ được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh chị thường xuyên xảy ra cãi vã. Từ tháng 7 năm 2021, chị H và anh T đã ly thân không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Đến nay, chị H xác nhận không còn tình cảm với anh T và cương quyết giữ yêu cầu xin ly hôn, không đề nghị Tòa án hòa giải đoàn tụ. Cũng xem xét, việc anh T không đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải và phiên tòa cho thấy anh không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đồng thời, tại Bản tự khai, anh T trình bày không còn tình cảm với chị H, xác nhận vợ chồng không có khả năng hàn gắn, đoàn tụ. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận định: mâu thuẫn vợ chồng chị H, anh T đã thực sự trầm trọng, cả hai không còn tình cảm vợ, chồng; không còn mong muốn cùng nhau xây dựng, vun đắp gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là bảo đảm quyền ly hôn của đương sự, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình

Về con chung: Chị H và anh T có hai con chung là Bùi Việt A, sinh ngày 03/01/2016 và Bùi Huy H1, sinh ngày 08/11/2018.

Xét: chị H và anh T có công việc và thu nhập ổn định, anh chị đều có trách nhiệm trong việc nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị H hiện đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Huy H1, anh T đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Việt A. Anh, chị đều có quan điểm: đề nghị Tòa án giao con chung Bùi Việt A cho anh Bùi Xuân T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); giao con chung Bùi Huy H1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị H, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét đề nghị của chị H, anh T phù hợp với điều kiện thực tế của gia đình anh chị; đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung và phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh T không có tài sản chung và không có nợ chung. Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[3] Xét ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận

[4] Về án phí: nguyên đơn chị Trần Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Thu H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thu H được ly hôn anh Bùi Xuân T.
  2. Về con chung: giao cháu Bùi Huy H1, sinh ngày 08/11/2018 cho chị Trần Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); giao cháu Bùi Việt A, sinh ngày 03/01/2016 cho anh Bùi Xuân T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi).
  3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị Trần Thị Thu H và anh Bùi Xuân T không phải cấp dưỡng nuôi con chung; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

    Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị Thu H và anh Bùi Xuân T không có tài sản chung, không nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Trần Thị Thu H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002277 ngày 02 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Chị H đã nộp đủ án phí.
  6. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Thu H và anh Bùi Xuân T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND Tp Hạ Long;
  • - THADS Tp Hạ Long;
  • - TAND tỉnh Q.N;
  • - UBND phường Giếng Đáy, TP Hạ Long (nơi ĐKKH)
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Lan – Nguyễn Văn Kền

Lê Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2023/HNGĐ-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 116/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị H và anh T ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger