|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 116/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 04/12/2023.
V/v: “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Xuân Trường
- Bà Nguyễn Thị Thùy
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Khắc Duy – Là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Trường Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 361/2023/TLST–HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1973. Địa chỉ: thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1961. HKTT: thôn P, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội. Địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và Biên bản lấy lời khai của đương sự, nguyên đơn bà Nguyễn Thị P trình bày:
Ngày 04/10/2002, bà và ông Nguyễn Văn V xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống chung vợ chồng hòa thuận đến khoảng đầu năm 2018 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do ông V thường xuyên chơi bời, cờ bạc không lo làm ăn, không quan tâm tới vợ con. Hai vợ chồng lại phát sinh nhiều điểm khác biệt dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nhiều, cuộc sống gia đình luôn trong tình trạng căng thẳng, mết mỏi. Mặc dù, bà đã nhiều lần nói chuyện đề vợ chồng có thể hàn gắn tình cảm, tìm lại tiếng nói chung trong gia đình nhưng không được. Do mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, không thể cứu vãn, tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông V.
Về con chung: Bà xác định vợ chồng có 01 (Một) con chung là Nguyễn Cao N, sinh ngày 08/8/2007. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi con, bà không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà P xác định không có và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Bà P xác định không có.
Đồng thời tại đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt, bà P đề nghị Tòa án xét xử, giải quyết vắng mặt.
Tại biên bản lấy lời khai của đương sự, bị đơn ông Nguyễn Văn V trình bày:
Ông và bà P xây dựng gia đình với nhau năm 2001, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T. Cuộc sống chung vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2018 thì nảy sinh mâu thuẫn và vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng đất đồng quan điểm, không còn tìm được tiếng nói chung. Nay bà P yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý ly hôn.
Về con chung: Ông xác định ông và bà P có 01 con chung như bà P trình bày. Khi ly hôn, ông đồng ý giao con cho bà P có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Ông xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông xác định không có và không yêu cầu gì.
Đồng thời tại đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, ông V đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông V vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa.
Các đương sự đều vắng mặt
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, sự chấp hành pháp luật tố tụng của các đương sự. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị P, giải quyết cho bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn V được ly hôn. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Cao N, sinh ngày 08/8/2007 cho bà P có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con. Ông V không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Các đương sự xác định không có và không yêu cầu gì nên đề nghị không xem xét. Về nợ chung các đương sự xác định không có nên đề nghị không xem xét.
Về án phí: bà Nguyễn Thị P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị P và bị đơn ông Nguyễn Văn V vắng mặt tại phiên tòa và đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo thủ tục chung là phù hợp.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn V xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp. Cuộc sống chung vợ chồng hòa thuận được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không thông cảm, chia sẻ cho nhau trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Vợ chồng đã sống ly thân. Tại phiên tòa, các đương sự đều vắng mặt. Tuy nhiên, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà P giữ nguyên yêu cầu ly hôn, còn ông V cũng đồng ý ly hôn với bà P. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa vợ chồng bà P và ông V đã trầm trọng, kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn nên cần căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của bà P, xử cho bà P và ông V được ly hôn là phù hợp.
[3] Về con chung: Bà P và ông V có 01 con chung là Nguyễn Cao N, sinh ngày 08/8/2007. Khi ly hôn, bà P yêu cầu được nuôi con. Còn ông V cũng đồng ý giao con cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục. Xét thấy, hiện nay trẻ Nguyễn Cao N đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Đồng thời, việc thỏa thuận nuôi con của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật nên cần ghi nhận và giao con chung cho bà Nguyễn Thị P có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Về việc cấp dưỡng nuôi con bà P không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Các đương sự đều xác định không có và không yêu cầu gì nên không đặt ra để giải quyết.
[5] Về nợ chung: Các đương sự xác định không có và không yêu cầu gì nên không đặt ra để giải quyết.
[6] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị P phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Nguyễn Thị P, xử cho bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn V được ly hôn.
- Về con chung:
Giao con chung là Nguyễn Cao N, sinh ngày 08/8/2007 cho bà Nguyễn Thị P có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con. Ông Nguyễn Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị P phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) bà Nguyễn Thị P đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000125 ngày 06/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Bà Nguyễn Thị P đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Trung Kiên |
Bản án số 116/2023/HNGĐ-ST ngày 04/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 116/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
