Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 116/2024/HS-ST

Ngày: 04 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Xuân và bà Trần Thị Yến Nhi.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Bằng – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 28 tháng 8 năm 2024 và ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 92/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2024/QĐST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Huỳnh Công T (tên gọi khác: Gít) – sinh năm: 1993, tại Cần Thơ; Nơi cư trú: Khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Công H – 1937 và bà Nguyễn Thị M – 1956; Vợ: Nguyễn Thị Ngọc G - 1994; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 24/12/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Bị tạm giam từ ngày 12/12/2023. (có mặt)

- Bị hại: Anh Lê Đào Kỳ D – sinh năm: 1988. (có mặt)

Địa chỉ: Khu I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng:

+ Chị Huỳnh Thị Thùy T1 – sinh năm: 1993. (có mặt)

Địa chỉ: Khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

+ Anh Lê Đào Cao Q – sinh năm: 1990. (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

+ Anh Nguyễn Văn H1 – sinh năm: 1989. (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

+ Anh Thái Văn T2 – sinh năm: 1992. (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ E, khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

+ Anh Đặng Thanh H2 – sinh năm: 1988. (có mặt)

Địa chỉ: Thôn A, xã S, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

+ Chị Nguyễn Thị Ngọc G – sinh năm: 1994. (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ B, khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

+ Bà Nguyễn Thị M – sinh năm: 1972. (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ H, khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

+ Chị Huỳnh Ánh Thùy D1 (M) – sinh năm: 1994. (có mặt)

Địa chỉ: Khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

+ Anh Trương Thanh T3 – sinh năm: 1992. (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ B, khu I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Người bào chữa: Ông Lê Quang Y và ông Vũ Duy N – Luật sư của Công ty L, Đoàn Luật sư tỉnh Đ. (có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 27/3/2010, anh Lê Đào Kỳ D có tổ chức uống rượu và hát karaoke tại quầy buôn bán mỹ phẩm của anh D thuộc khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Tham gia gồm có cùng Huỳnh Công T và những người bạn khác của anh D là Nguyễn Văn H1, Đặng Thanh H2, Thái Văn T2, Trương Thanh T3, Hồ Quốc C, N1 (bạn gái của Nguyễn Văn H1), Huỳnh Thị Thùy T1 (bạn gái của Huỳnh Công T).

Quá trình hát karaoke do T không chọn bài nhưng giành hát bài của người khác chọn nên anh D đã nhắc nhở T. Cả nhóm hát đến 22 giờ 30 phút cùng ngày thì nghỉ. Anh D ở lại quầy mỹ phẩm dọn dẹp và ngủ lại tại đây.

Đến 23 giờ 45 phút cùng ngay, khi anh D đang nằm trong quầy mỹ phẩm thì nghe T gọi cửa và nói “anh D ơi mở cửa”. Khi D mở cửa thì thấy T và 02 người đi cùng (không rõ nhân thân, lai lịch), mỗi người cầm một cây mã tấu dài khoảng 70cm. Sau đó, T kéo cửa xông vào dùng mã tấu chém 01 cái vào đầu anh D và tiếp tục chém nhiều cái vào vai, tay, người của anh D. Hai người đi cùng T chỉ đứng nhìn chứ không cùng T hành hung anh D.

Sau khi bị chém, anh D bỏ chạy ra đường T theo hướng qua quầy thuốc tây Tố T4 để cầu cứu. Khi chạy được khoảng 50m, do thương tích chảy nhiều máu nên anh D không thể chạy tiếp mà ngồi lại bên đường. Sau đó, T cùng một người nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) chạy xe Wave đến đưa anh D đến Trung tâm Y tế huyện T để cấp cứu. Các anh Trương Thanh T3, Thái Văn T2, Đặng Thanh H2 cùng chạy lên Trung tâm Y tế huyện T và sau đó đưa anh D đến bệnh viện huyện Đ để điều trị thương tích.

Sau khi xuất viện trở về, ngày 19/4/2010 anh D làm đơn trình báo vụ việc lên Cơ quan Công an, còn Huỳnh Công T bỏ đi khỏi địa phương.

Hậu quả: Bản Giám định pháp y số 406 ngày 06/5/2010 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận: Lê Đào Kỳ D bị đa thương tích vùng đầu, vai, cẳng tay phải, cẳng tay trái, bàn tay phải, bàn tay trái do vật sắc.

Lâm sàng: Để lại vết thương thái dương phải kích thước 5cm; vết thương vai phải kích thước 5cm; 02 vết thương lòng bàn tay phải kích thước 7cm và 10cm, dứt gân gấp nông sâu ngón 1,2,3,4,5 dứt cơ giun 1,2,3, dứt cung động mạch gan tay nông, gẫy chỏm xương bàn I; vết thương đốt I ngón 2,3,4 mặt lòng mỗi vết kích thước 02cm, vết thương mặt lòng bàn tay trái sát gốc ngón 2,3,4 kích thước 5cm; vết thương mặt trước trong 1/3 giữa căng tay phải kích thước 7cm, bờ mép sắc gọn; đã được Bệnh viện Đ khâu vết thương, khâu gân cơ.

Cận lâm sàng: X – quang: Mẻ chỏm xương bàn ngón 1 bàn tay phải; không thấy tổn thương trên phim sọ, cẳng tay phải và cẳng bàn tay trái; Đo điện não: Rối loạn tuần hoàn não sau chấn thương đầu.

Tỷ lệ thương tật toàn bộ là 31% tạm thời.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Huỳnh Công T không thừa nhận hành vi phạm tội theo nội dung vụ án nêu trên.

Bản cáo trạng số 32/CT-VKSTP-ĐN ngày 08 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Huỳnh Công T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai giữ quyền công tố luận tội và tranh luận; phân tích dấu hiệu phạm tội; đánh giá đặc điểm nhân thân của bị cáo. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Huỳnh Công T về tội “Cố ý gây thương tích”, bổ sung tình tiết định khung “có tính chất côn đồ” và đề nghị áp dụng các điểm a, i khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134, Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự. Đề xuất mức án đối với bị cáo Huỳnh Công T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc bị cáo bồi thường chi phí chữa trị thương tích cho bị hại theo quy định của pháp luật.

Ý kiến bào chữa của ông Vũ Duy N:

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả hồ sơ để điều tra bổ sung và thay đổi biện pháp ngăn chặn từ biện pháp “Tạm giam” thành biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bởi các lý do sau:

Thứ nhất, con dao là hung khí trong vụ án nhưng chưa được Cơ quan điều tra thu giữ. Tại thời điểm 23 giờ, nhà T cũng không dùng gì đến dao như vậy thì con dao của T hay của ai khác? Dao ở đâu ra? Mua ở thời điểm nào? T là người mua hay ai mua? Đồng thời, Cơ quan điều tra chưa thực nghiệm hiện trường để xem Trứ chém bị hại ở phương như thế nào, dùng tay nào để chém hay ai khác chém? Ngoài ra, có sự mâu thuẫn, không thống nhất trong lời khai của bị hại, lúc thì bị hại khẳng định T cầm dao tay phải để chém, lúc thì bị hại nói không nhớ bị cáo dùng tay nào chém. Ngoài T ra thì còn ai chém nữa không thì Cơ quan điều tra chưa làm rõ được.

Thứ hai, người làm chứng T1H2 không phải là người làm chứng trực tiếp, họ không biết ai chở D tới bệnh viện. Ngoài ra, Cơ quan điều tra chưa làm rõ việc anh D gõ cửa ở Quầy thuốc Tố Tâm có ai ở nhà không? Có những ai biết không? Anh D bị thương chắc chắn phải dính máu tại quầy thuốc nhưng Cơ quan điều tra không xem xét vết máu tại hiện trường. Đầu mối sự việc là việc T chở T1 về nhà T. Vậy có những ai ở nhà TT1 là người ngủ tại nhà T hay về ngủ tại nhà T1? Cơ quan điều tra chưa làm rõ việc này cũng chưa lấy lời khai của nhân viên y tế để xem xét xem ai là người đưa anh D vào bệnh viện. Đồng thời, khi tới bệnh viện thì tình trạng anh D như thế nào? Có lúc thì anh D khai là tỉnh táo, có lúc thì anh D khai đã bất tỉnh. Theo lẽ thông thường nếu anh D thấy bị cáo T quay lại phải nghĩ ngay đến việc Trứ chém lần nữa chứ không phải để T đưa đi bệnh viện. Như vậy, không đủ căn cứ để buộc tội Huỳnh Công T là người thực hiện hành vi chém bị hại.

- Ý kiến bào chữa của ông Lê Quang Y:

Đồng ý với toàn bộ ý kiến bào chữa của ông Vũ Duy N. Ngoài ra, trong vụ án này Cơ quan điều tra chưa xác định quãng đường, thời gian, tính hợp lý của lời khai của T mà kết tội bị cáo chủ yếu dựa vào lời khai nhưng lời khai của bị hại bất nhất. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát bổ sung thêm tình tiết định khung hình phạt “có tính chất côn đồ” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là chưa thật sự phù hợp.

Bị cáo không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2]. Về yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung và thay đổi biện pháp ngăn chặn của người bào chữa:

[1.2.1]. Về yêu cầu trả hồ sơ để điều tra bổ sung, xét thấy:

- Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Công T không thừa nhận hành vi phạm tội nên không thể làm rõ được nơi bán dao, thời điểm mua dao, người mua dao như người bào chữa đề nghị xác định.

- Thời gian từ khi xảy ra sự việc (năm 2010) đến thời điểm khởi tố bị can (năm 2023), hiện trường đã bị xáo trộn, bối cảnh thực tế không còn giống với thời điểm xảy ra sự việc. Do đó, không cần thiết phải thực nghiệm hiện trường.

- Những người làm chứng cũng xác định không có ai chứng kiến trực tiếp sự việc bị hại bị gây thương tích.

- Việc chưa làm rõ việc có ai ở nhà, có ai biết khi anh D gõ cửa quầy thuốc Tố Tâm hay không và có vết máu ở quầy thuốc hay không thì thấy căn cứ lời khai bị cáo thể hiện không ai biết sự việc này. Ngoài ra, việc thu thập vết máu của bị cáo tại quầy thuốc Tố Tâm không có ý nghĩa chứng minh tội phạm và cũng không thể thực hiện tại thời điểm hiện tại.

- Qua lời khai của bị cáo và người làm chứng Huỳnh Thị Thùy T1 đã thể hiện rõ việc bị cáo chở T1 về nhà bị cáo rồi sau đó chở T1 về nhà T1 ngủ. Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai của ông Huỳnh Công H – là bố đẻ của bị cáo.

- Qua lời thừa nhận của bị cáo, bị hại và lời khai của người làm chứng thể hiện bị cáo là người đưa bị hại đến Trung tâm Y tế huyện T. Việc lấy lời khai của nhân viên y tế để xác định ai là người đưa bệnh nhân đến chữa trị là không phù hợp với chuyên môn của nhân viên y tế và không thể thực hiện tại thời điểm hiện tại.

- Việc nhận định T quay lại để đưa bị hại đi bệnh viện là không phù hợp với lẽ thông thường là nhận định chủ quan, không có cơ sở.

- Tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định: “Luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa”. Do đó, việc Kiểm sát viên bổ sung tình tiết định khung hình phạt “có tính chất côn đồ” nhưng vẫn trong khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng đã truy tố tại bản luận tội là phù hợp với quy định của pháp luật.

Căn cứ vào Điều 280 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ C1, Bộ Q1, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung của người bào chữa.

[1.2.2]. Tại phiên tòa, người bào chữa yêu cầu thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo từ “Tạm giam” sang “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Xét thấy: Bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa không thành khẩn khai báo, gây cản trở công tác điều tra nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bị cáo.

[2]. Về tội danh: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Công T không thừa nhận hành vi phạm tội. Tuy nhiên, căn cứ lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, cụ thể:

Căn cứ lời khai của bị hại anh Lê Đào Kỳ D: Anh có mời T và một số người bạn đến nhậu tại kiot của anh tại Khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình hát, T không tự bấm bài mà giành hát những bài người khác chọn nên anh có nhắc T: “từ từ, đừng có giành”. Lúc đó, T không nói gì và không tiếp tục hát nữa. Đến 22 giờ 30 phút thì T cùng bạn ra về còn anh D dọn dẹp quán. Đến khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, khi anh D đang ngủ thì T gọi mở cửa. Sau đó, T cầm 01 cây dao tự chế cùng 02 người không rõ nhân thân, lai lịch chém 05 – 06 nhát vào tay, đầu, vai. Sau khi chém xong, T và bạn đi về. Anh D chạy qua tiệm thuốc Tố Tâm (của chị ruột) để kêu cứu nhưng không ai biết. Sau đó T quay lại cùng 01 người khác và đưa anh D đến Trung tâm y tế huyện T cấp cứu. Đến ngày 23/8/2023, khi T về thì T cho vợ, em gái là chị N1 xuống chở anh đến nhà nói chuyện xin lỗi và hứa bồi thường vì đã gây thương tích cho anh. Đồng thời xin anh làm đơn bãi nại cho T.

- Lời khai của chị Huỳnh Thị Thùy T1 (bạn gái của T tại thời điểm xảy ra tội phạm, có 01 con chung với T): Chị T1 không thừa nhận lời khai của T về việc cùng bị cáo chở bị hại lên Trung tâm Y tế huyện T mà xác định vào ngày 27/3/2010, trong khi nhậu cùng nhau tại kiot của anh D thì T giành hát karaoke với người khác và được anh D nhắc nhở nên T giận không hát tiếp. Sau khi nhậu xong, T chở chị T1 về nhà rồi bỏ đi. Khi về đến nhà, chị T1 lo sợ việc Trứ quay lại gặp anh D giải quyết mâu thuẫn nên quay lại tiệm của anh D. Trên đường đi, chị T1 thấy T cùng một nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) chở anh D (ngồi giữa) đi cấp cứu. Hôm sau khi T và chị T1 gặp nhau thì T kể lại về việc dùng mã tấu chém anh D và lo sợ trả thù nên rủ chị T1 đến huyện N sinh sống để trốn tránh.

- Lời khai của anh Lê Đào Cao Q (em trai bị hại D): Khi anh H2, anh T3, anh T2 đang ở Trung tâm Y tế huyện T thì có thông báo cho anh về sự việc anh D bị T chém gây thương tích.

- Lời khai của anh Thái Văn T2 (bạn bè với bị cáo và bị hại): Đang trên đường thì được anh T3 gọi là “Tươi ơi, thằng T chở anh D đi bệnh viện kìa”. Khi lên Trung tâm Y tế huyện T thì thấy Trứ đứng tên cạnh giường anh D. Anh có hỏi “Ai chém mày?” thì anh D có trả lời “Bạn mày, thằng T”. Lúc đó T đứng bên cạnh, có nghe thấy và không nói gì.

- Lời khai của anh Đặng Thanh H2 (bạn bè với bị cáo và bị hại): Có chứng kiến việc mâu thuẫn giữa T và anh D về việc T giành hát karaoke thì bị anh D nhắc nhở. Anh đứng ra can ngăn anh D thì anh D phạt T uống 02 ly rượu. Trứ uống xong thì không hát nữa. Sau đó, T và chị T1 về trước. Khi nhậu xong, đang trên đường về thì anh thấy T cùng một nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) chở anh D (ngồi giữa) đi. Khi đi ngang thì T có la lên: “Anh H2 ơi, D bị chém rồi”. Anh có đến Trung tâm Y tế huyện T và thấy anh D đang nằm trên giường cấp cứu, trên người có nhiều thương tích tại tay, vai, đầu và chảy nhiều máu. Anh có hỏi D là ai chém mày thì D trả lời là: Thằng T chém. Sau đó, anh có gọi điện cho anh Q (em trai anh D) biết sự việc.

- Lời khai của chị Nguyễn Thị Ngọc G (chung sống như vợ chồng với T, có 02 con chung): Tại thời điểm xảy ra sự việc thì chị không quen biết T. Nhưng đến tháng 8/2023 thì khi công an mời T lên làm việc thì chị có hỏi T thì T nói không chém anh D mà chỉ chở anh D đi cấp cứu. Sau đó, chị và em gái là Huỳnh Ánh Thùy D1 đến nhà chở anh D lên gặp T để nói chuyện. Còn nội dung cuộc nói chuyện của T và anh D thì tôi không rõ. Khi lên gặp anh D thì chị chỉ nhờ anh D bỏ qua cho T do gia đình T có con còn nhỏ.

- Lời khai của bà Nguyễn Thị M (mẹ của chị Huỳnh Thị Thùy T1): Biết được việc con gái quen với T và từ năm 2009 đã có ngăn cản vì cả hai còn nhỏ tuổi, Trứ không có công ăn việc làm ổn định. Tuy nhiên, vợ chồng bà đi làm ăn xã và thường xuyên không có mặt ở nhà. Sau đó, bà biết việc T và chị T1 có bỏ đi huyện N làm việc, cả hai có 01 con chung.

- Lời khai của bị cáo tại Biên bản lấy lời khai ngày 22/02/2024 tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú: Thừa nhận có sự việc vào ngày 27/3/2010 tại nhà anh D khi cả nhóm đang nhậu, hát karaoke và anh D có nhắc nhở, yêu cầu T đừng giành và không hát nữa. Sau đó trên đường T chở T1 về nhà thì thấy anh D đang nằm ở quầy thuốc Tố Tâm nên TT1 chở anh D đưa đi cấp cứu. Trên đường có gặp anh T2, anh T3 và có nói anh T2, anh T3 cùng lên bệnh viện. T thừa nhận có nói với chị T1 về việc dùng dao chém anh D gây thương tích và lo sợ anh D trả thù nên rủ chị T1 xuống Nhơn Trạch trốn và cắt đứt mọi liên lạc với gia đình. Còn việc chị T1 khai là không cùng T chở anh D đi cấp cứu thì T không nhớ. Trứ xác định không nhớ rõ diễn biến vụ việc ngày 27/3/2010.

Từ những cơ sở nêu trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định: Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt từ việc bị anh Lê Đào Kỳ D nhắc nhở trong khi ngồi uống rượu và hát karaoke tại nhà anh D nên vào khoảng 23 giờ 45 phút ngày 27/3/2010, tại khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Huỳnh Công T đã có hành vi sử dụng 01 con dạo tự chế (mã tấu) dài khoảng 70cm là “hung khí nguy hiểm” chém vào đầu, vai, cẳng tay trái cẳng tay phải, bàn tay trái của anh Lê Đào Kỳ D gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 31%.

Hành vi do bị cáo Huỳnh Công T đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, nó trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác. Bị cáo thực hiện hành vi trên với lỗi cố ý. Bản thân bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Do đó bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, với các tình tiết định khung hình phạt “dùng hung khí nguy hiểm” “có tính chất côn đồ” và “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”, tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm a, i khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống mà không kiềm chế được dẫn đến việc bị cáo gây thương tích cho người khác. Hành vi của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T đang nuôi con chưa thành niên là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6]. Về nhân thân:

Sau khi phạm tội, bị cáo đã bị kết án, có nhân thân xấu.

Tại thời điểm thực hiện tội phạm, bị cáo là người dưới 18 tuổi. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 90 và Điều 91 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo khi lượng hình.

[7]. Về hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm với số tiền 30.000.000đ.

Căn cứ vào Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm thì yêu cầu của bị hại là có căn cứ, cụ thể các khoản được chấp nhận:

- Chi phí có chứng từ:

  • + Biên nhận ngày 06/5/2010: 60.000đ.
  • + Biên lai thu tiền phí, lệ phí có mệnh giá số 0031877: 3.000đ.
  • + Biên lai thu tiền phí, lệ phí có mệnh giá số 0071223: 4.000đ.
  • + Biên lai thu tiền phí, lệ phí ngày 05/5/2010: 30.000đ.
  • + Biên lai thu tiền ngày 28/3/2010: 600.000đ.
  • + Biên lai thu viện phí ngày 28/3/2010: 58.394đ.
  • + Biên lai thu viện phí ngày 28/3/2010: 91.013đ.
  • + Biên lai thu viện phí ngày 02/4/2010: 3.687.203,5đ.
  • + Biên lai thu viện phí ngày 20/4/2010: 30.000đ.
  • + Biên lai thu viện phí ngày 28/3/2010: 93.000đ.
  • + Biên lai thu viện phí ngày 28/3/2010: 60.000đ.
  • + Biên lai thu tiền ngày 05/5/2010: 100.000đ.

Tổng cộng là: 4.816.610,5đ.

Về khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần: Hành vi phạm tội của bị cáo gây thiệt hại cho sức khỏe của bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 31% nên Hội đồng xét xử quyết định mức bồi thường là 15 lần mức lương sơ sở tại thời điểm hiện tại. Cụ thể: 2.340.000đ x 15 lần = 35.100.000đ.

Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về sức khỏe với số tiền 30.000.000đ là thấp hơn khoản chi phí chữa trị thương tích và khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần, có lợi cho bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, các điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị cáo Huỳnh Công T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000đ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, tổng cộng là 1.700.000đ.

[10]. Xét quan điểm bào chữa của người bào chữa không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[11]. Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Các điểm a, i khoản 1, khoản 3 Điều 134, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự;
  • - Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
  • - Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • - Các điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Công T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Công T 04 (bốn) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12 tháng 12 năm 2023.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Huỳnh Công T phải bồi thường cho bị hại Lê Đào Kỳ D thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm với số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí: Buộc bị cáo Huỳnh Công T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, tổng cộng là 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm nghìn đồng).

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Người bào chữa;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - CQCSĐT Công an huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Phú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án – VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Mai Văn Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 116/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger