Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN LỘC

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2024/HS-ST

Ngày 04-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Tiến

Các Hội thẩm nhân dân:1. Bà Huỳnh Thị Mỹ Trang

2. Bà Trần Thị Kim Tân

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thiêm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thuý - Kiểm sát viên.

Vào ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 101/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 104/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh V, sinh năm 1994 tại Đồng Nai; Nơi ĐKTT: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh V1, sinh năm: 1972 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1973; Sống chung như vợ chồng Võ Thị Tường V2, sinh năm: 1996; Có 01 người con, sinh năm 2014; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 20/6/2022, bị Công an huyện X, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.000.000 đồng về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 78/QĐ-XPHC. Ngày 13/9/2023 đã thi hành xong. Tạm giữ, tạm giam ngày 29 tháng 11 năm 2024 đến ngày 06/02/2024 được tại ngoại.

(Bị cáo có mặt tại phiên toà).

* Bị hại: Chị Võ Thị Diễm H1, sinh năm: 1993 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Vĩnh T, sinh năm: 1984 (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

2. Anh Nguyễn Hồng H2, sinh năm: 1993 (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Thanh V đã nảy sinh ý định ý định mượn xe của chị Võ Thị Diễm H1 đem đi cầm cố lấy tiền. Ngày 11/9/2023, V đã nhờ chị Võ Thị Tường V2 (người sống chung như vợ chồng với V) gọi điện thoại cho chị ruột là Võ Thị Diễm H1 để V mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 60H5-333.92 của chị H1. Sau khi chị V2 gọi điện thoại cho thì chị H1 đồng ý cho V mượn xe. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, V đến gặp chị H1 tại ấp T, xã X, huyện X để mượn xe mô tô nêu trên. Sau khi mượn được xe mô tô của chị H1, V điều khiển xe mô tô đến tiệm cầm đồ “24/24” do anh Vĩnh T1 tại ấp T, xã X, huyện X làm chủ cầm xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 60H5-333.92 được số tiền 10.000.000 đồng. Do trước đó V đã cầm chiếc xe mô tô Yamaha Exciter biển số 60B5-988.04 nên anh T1 đã trừ số tiền 4.500.000 đồng cầm xe, còn lại số tiền 5.500.000 đồng anh T1 chuyển qua tài khoản số 0988011705 tại Ngân hàng M mang tên Nguyễn Hồng H2. Quá trình đem xe đi cầm thì V phát hiện trong cốp xe chị H1 có để một cái bóp da màu đen, trong bóp da có số tiền 1.500.000 đồng nên V đã lấy số tiền trên. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, V đã tiêu xài hết số tiền nên tiếp tục đề nghị anh T1 cầm thêm số tiền 2.000.000 đồng với xe mô tô 60H5-333.92 thì anh T1 đồng ý chuyển khoản cho V thêm 2.000.000 đồng qua tài khoản số 0988011705 tại Ngân hàng M mang tên Nguyễn Hồng H2.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 114/KL-HĐĐG đề ngày 21/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện X xác định giá trị còn lại của xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 60H5-333.92 đã qua sử dụng là 26.000.000 đồng (Hai mươi sáu triệu đồng).

Vật chứng vụ án và xử lý vật chứng:

  • - Xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 60H5-333.92, đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy biển số 60H5-333.92. Quá trình điều tra xác định chị Võ Thị Diễm H1 là chủ sở hữu hợp pháp nên đã trả xe mô tô cho chị H1.
  • - Số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), do Nguyễn Thanh V tự nguyện giao nộp để trả lại cho chị Võ Thị Diễm H1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã trả số tiền 1.500.000 đồng cho chị H1.

Trách nhiệm dân sự:

Chị Võ Thị Diễm H1 đã nhận lại xe mô tô biển số 60H5-333.92 và số tiền 1.500.000 đồng nên không yêu cầu gì thêm về mặt dân sự.

Anh Vĩnh T1 đã nhận lại số tiền 12.000.000 đồng, không yêu cầu gì thêm về mặt dân sự.

Tại Bản cáo trạng số 104/CT-VKSXL ngày 25 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố bị cáo Nguyễn Thanh V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tìa sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh V phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thược trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh V từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng tháng tù.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thanh V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thống nhất với Bản Cáo trạng, Bản Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thanh V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội: Vào ngày 11/9/2023 Nguyễn Thanh V đã có hành vi gian dối, lừa mượn mô tô biển số 60H5-333.92 của chị Võ Thị Diễm H1 rồi mang đi cầm lấy tiền tiêu xài cá nhân. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 26.000.000 đồng. Do đó, đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thanh V đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
  3. [3] Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến an

toàn trật tự tại địa phương. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

  1. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, người bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  2. [5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  3. [6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Võ Thị Diễm H1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự nên không giải quyết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vĩnh T1 đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu gì về dân sự nên không giải quyết.
  4. [7] Đối với việc Nguyễn Thanh V có hành vi lấy trộm số tiền 1.500.000 đồng trong cốp xe của chị Võ Thị Diễm H1, do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Trộm cắp tài sản” nên Công an huyện X xử phạt vi phạm hành chính đối với V là phù hợp.
  5. Đối với ông Vĩnh T1 không biết xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 60H5-333.92 do Nguyễn Thanh V đem đến cầm cố là do phạm tội mà có nên hành vi của ông T1 không cấu thành tội “Chứa chấp hoặc Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

    Đối với chị Võ Thị Tường V3 không biết việc Nguyễn Thanh V mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 60H5-333.92 của chị Võ Thị Diễm H1 để đem đi cầm cố nên không xử lý đối với chị Võ Thị Tường V3 là phù hợp.

    Đối với anh Nguyễn Hồng H2 cho Nguyễn Thanh V mượn thẻ ngân hàng nhưng anh H2 không biết việc V dùng để nhận tiền do hành vi phạm tội mà có nên không xử lý đối với đối với anh Nguyễn Hồng H2 là phù hợp.

  6. [8] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần.
  7. [9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh V phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh V 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 29/11/2023 đến ngày 06/02/2024.

2. Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Bị cáo Nguyễn Thanh V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Xuân Lộc;
  • - Công an huyện Xuân Lộc;
  • - CCTHADS huyện Xuân Lộc;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Hồ sơ thi hành án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Văn Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 116/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger