|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 116/2024/DS-PT Ngày 03 - 6-2024 V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc
|
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hà Giang
Các Thẩm phán: bà Nguyễn Thị Hương Giang và bà Triệu Thị Luyện;
Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang;
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 02 tháng 5 năm 2024 và ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2024/TLPT- DS ngày 06 tháng 03 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” do bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/TLST- DS ngày 08 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 107/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 127/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 4 năm 2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 71/2024/QĐ-PT ngày 02/5/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1986 (có mặt);
Địa chỉ: tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Bị đơn: chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1993 (có mặt);
Địa chỉ: số A, ngõ B, đường V, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Sinh H1, sinh năm 1997 (vắng mặt);
Địa chỉ: tổ dân phố V, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Người kháng cáo: bị đơn - chị Nguyễn Thị D.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/TLST- DS ngày 08 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn - anh Nguyễn Văn H trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị D quen nhau từ trước do cùng kinh doanh bất động sản, thấy chị D bán nhiều đất, lại là giáo viên của trường tiểu học D2. Do tin tưởng và có nhu cầu mua đất ở khu dự án 379, khu đô thị P thành phố B nên anh đã đặt vấn đề muốn mua khi thấy chị D bán Lô 20-ALK52 của chủ đầu tư 379. Chị D cam kết với số tiền là 2.000.000.000 đồng bao gồm chi phí ra sổ đỏ, chị D bảo đây là lô đất của suất ngoại giao đặc biệt nên mới có giá đó. Khi anh hỏi thì chị D nói là chị lấy đất của anh Nguyễn Sinh H1 là giám đốc công ty TNHH Đ. Anh có tìm hiều và được biết chị D đã mua của anh H1 4 lô đất, trong đó có Lô 20-ALK52. Do tin tưởng vào uy tín của chị D đảm bảo lấy được Lô đất 20-ALK52 nên anh đã đặt cọc cho chị D 2 lần:
Lần thứ nhất: ngày 14/7/2021, anh đặt cọc cho chị Doanh số tiền 200.000.000 đồng qua chuyển khoản từ tài khoản số 8698698695555 (Ngân hàng M) đến số tài khoản 2209051993 (ngân hàng V) của chị D. Nội dung chuyển khoản: “Anh H2 chuyen khoan coc lo dat 20 ALK52 khu 379 BigC".
Lần thứ hai: ngày 02/8/2021, anh đặt cọc cho chị Doanh số tiền 750.000.000 đồng. Anh và chị D ký kết Hợp đồng đặt cọc mua bán đất ngày 02/8/2021 với thỏa thuận chị D bán cho anh “Lô 20-AKL52 của chủ đầu tư 379, thuộc khu đô thị P thành phố B với số tiền 2.000.000.000 đồng có bao gồm chi phí ra đỏ” và chị D “nhận đủ 950.000.000 đồng tiền cọc và có trách nhiệm thanh toán với với bên vào hợp đồng cho ông Nguyễn Văn H...Cam kết thời hạn vào hợp đồng với chủ đầu tư 379 chậm nhất là ngày 14/11/2021”. Chị D đã lấy lại Hợp đồng đặt cọc lần 1 ngày 14/7/2021.
Cùng ngày 02/8/2021, sau khi đặt cọc lần 2 xong, chị D dẫn anh xuống Công ty TNHH Đ, giao tiền cho anh H1 và ký kết thêm giấy tờ, thủ tục dưới sự hướng dẫn, chứng kiến của của chị D. Anh luôn nhấn mạnh với chị D việc mua bán này anh chỉ làm việc với chị D, còn việc giao tiền cho ai làm theo ý chị D và chị D chịu trách nhiệm hoàn toàn (chị D khẳng định hết hạn đặt cọc mà chị D phải đặt cọc cho anh H1 nên dẫn anh đến đưa tiền cho anh H1 luôn). Toàn bộ quá trình anh ký kết giấy tờ, nộp tiền với anh H1 đều là do chị D yêu cầu để thực hiện hợp đồng đặt cọc với chị D, như vậy anh đã đặt cọc đủ số tiền 950.000.000 đồng cho chị D theo cách chị D yêu cầu.
Số tiền đặt cọc anh đã chuyển cho chị D là tiền riêng của anh, không liên quan gì đến vợ anh (Nguyễn Thu H3). Khi anh giao dịch hay ký hợp đồng đặt cọc với chị D, anh không được bàn bạc hay thông báo gì cho vợ anh biết. Đến nay, đã quá thời hạn trong Hợp đồng đặt cọc gần 2 năm nhưng chị D vẫn chưa làm bất cứ thủ tục nào để anh nhận chuyển nhượng Lô 20-ALK52 như thỏa thuận. Anh đã nhiều lần yêu cầu chị D thực hiện theo hợp đồng nhưng chị D viện cớ nói không thực hiện được vì anh H1 không thực hiện hợp đồng với chị D.
Anh yêu cầu chị Nguyễn Thị D phải trả tổng số tiền 2.185.000.000 đồng theo Hợp đồng đặt cọc mua bán đất ngày 02/8/2021 (trong đó tiền đặt cọc là 950.000.000 đồng và số tiền phạt cọc theo Điều 4 của hợp đồng là 950.000.000 đồng và 285.000.000 đồng).
Bị đơn chị Nguyễn Thị D trình bày: khoảng tháng 8 năm 2021, chị có quen anh H. Trong thời gian này, chị có bán cho anh H Lô 20-ALK52 thuộc Khu đô thị P thành phố B do công ty C làm chủ đầu tư với giá tiền 2.000.000.000 đồng, giá đã bao gồm đầy đủ chi phí đến khi ra sổ và tại hợp đồng đặt cọc ngày 2/8/2021 anh H nộp tiền đặt cọc 950.000.000 đồng.
Trước ngày 2/8/2021, anh H thực hiện đặt cọc số tiền 200.000.000 đồng và hẹn đến ngày 2/8/2021 nộp nốt số tiền 750.000.000 đồng. Ngày 02/8/2021, sau khi trao đổi với nhau, chị có nói với anh H việc vào hợp đồng lô đất 20-AKL52 với phía đại diện chủ đầu tư là Công ty Đ người đại diện pháp luật mang tên anh Nguyễn Sinh H1 làm giám đốc. Anh H đã mang số tiền 750.000.000 đồng đến tại Văn phòng Công ty Đ để nộp và ký hợp đồng giữa anh H với anh H1 có mặt chị là người làm chứng. Vì là người ban đầu ký hợp đồng với anh H nên anh H yêu cầu chị phải ký tiếp vào hợp đồng đặt cọc nhận đủ số tiền 950.000.000 đồng. Lúc này, chị nghĩ anh H1 sẽ bàn giao được đất cho anh H nên cũng ký theo yêu cầu nhưng tiền thì chị không được nhận. Sau này, khi chờ đợi đến khoảng tháng 4 năm 2022, chị có giục anh H1 bàn giao đất thì phát hiện không có đất và chị đã làm đơn tố giác tội phạm đến cơ quan điều tra đối với anh H1 về hành vi lừa đảo thì được biết sự việc liên quan đến anh S, chị N hiện đang bị khởi tố. Sau này, chị cùng anh H xuống nhà anh H1 đòi lại số tiền 950.000.000 đồng. Lúc này, anh H1 đã viết biên nhận và chịu trách nhiệm hoàn trả cho anh H số tiền 950.000.000 đồng chậm nhất vào thứ sáu ngày 22/5/2022. Vì vậy toàn bộ số tiền trên chị không được cầm từ phía anh H.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Sinh H1 đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Giấy báo làm việc, Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo phiên đối chất nhưng đều vắng mặt, cũng không gửi bản tự khai đến Tòa án.
Chị Nguyễn Thị H4 - vợ anh Nguyễn Văn H trình bày: Chị được biết chồng chị đang khởi kiện chị D tại Toà án về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”. Chị không biết anh H ký hợp đồng đặt cọc với chị D thời điểm nào, ký hợp đồng với chị D để mua thửa đất nào, ở đâu, trị giá bao nhiêu tiền. Khi anh H giao dịch hay ký hợp đồng đặt cọc với chị D, chị không được anh H bàn bạc hay thông báo gì. Tiền anh H đã đặt cọc với chị D cũng không phải tiền chung của chị và anh H, mà là tiền riêng của cá nhân anh H. Đến khi anh H khởi kiện chị D tại Toà án thì chị mới nghe anh H nói lại. Do việc giao dịch giữa anh H và chị D không liên quan đến chị, tiền đặt cọc anh H chuyển cho chị D cũng không phải tiền chung của chị và anh H nên chị đề nghị Toà án không đưa chị vào tham gia tố tụng trong vụ án.
Tại Biên bản ghi lời khai ngày 08/05/2023 tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, anh Nguyễn Sinh H1 trình bày: Anh và chị D thực hiện việc đặt cọc, nhận cọc tiền tại 02 dự án là khu đô thị P, L, Bắc Giang và dự án khu đô thị P, thành phố B. Cụ thể: Tại khu đô thị P thị trấn C, L, Bắc Giang: 01 hợp đồng nhưng hợp đồng hiện nay đã thất lạc, đặt cọc 02 lô số 5 lô số 6 của dãy liền kề 18. Tại dự án Khu đô thị P thành phố B do chủ đầu tư là công ty C xây dựng gồm: 09 lô đất, trong đó có 01 lô đất BLK43 có viết giấy nhận cọc nhưng khi thực hiện vào hợp đồng thì không thành công nên ngay sau đó khi chị D không thực hiện được hợp đồng thì hai bên đã đối trừ, thanh toán xong. Còn lại 08 lô đất gồm: Lô 25 và Lô 42 BLK26; Lô 31 BLK31; Lô 39 BLK 31; Lô 37 và 50 ALK64; Lô 20 và 21 ALK52.
Số tiền đặt cọc 02 lô đất tại dự án phía T, thị trấn C là 390.000.000 đồng (chưa thanh toán).
Số tiền tại dự án phía Nam thành phố B:
- + Lô 13 BLK43 đặt cọc 200.000.000 đồng (đã thanh toán xong).
- + Lô 25 BLK26 đặt cọc 500.000.000 đồng (đã thanh toán xong).
- + Lô 42 BLK26 theo phiếu thu tiền là 2.745.000.000 đồng (đã thanh toán xong).
- + Lô 31 BLK31 đặt cọc 500.000.000 đồng (đã thanh toán xong).
- + Lô 39 BLK31 đặt cọc 500.000.000 đồng (chị Nguyễn Thị Thu T đứng tên hợp đồng, hiện chưa thanh toán).
- + Lô 37 ALK64 đặt cọc ban đầu giữ chỗ là 100.000.000 đồng do chị Nguyễn Thị Hồng H5 đứng tên nhưng hợp đồng thoả thuận giữa anh và chị D thoả thuận thì chị Nguyễn Thị Thu T đứng tên sau đó trực tiếp giao tiền vào hợp đồng thêm và cuối cùng hợp đồng là 1.450.000.000 đồng (đã bao gồm cả cọc giữ chỗ ban đầu). Đây là hợp đồng sau này đứng tên chị Lê Thị Hoàng K. Hiện chưa thanh toán.
- + Lô 50 ALK64 đặt cọc ban đầu là 100.000.000 đồng, mang tên hợp đồng là chị Nguyễn Thị Hồng H5. Sau đó tiếp tục đóng tiền thêm là 1.450.000.000 đồng mang tên hợp đồng chị Nguyễn Thị Thu T.
- + Lô 20 ALK52 và lô 21 ALK52 được đặt cọc ban đầu vào ngày 28/6/2021 được đặt cọc giữ chỗ cùng nhau, số tiền đặt cọc là 400.000.000 đồng và số tiền 600.000.000 đồng vào hợp đồng cho cả 02 lô. Do vậy, tính trung bình 500.000.000 đồng/lô. Sau đó, vào hợp đồng cho anh Nguyễn Văn H, số tiền tiếp tục đóng cho lô 20 và lô số 21 sau đó được anh H giao trực tiếp số tiền 935.000.000 đồng.
Tổng số tiền hợp đồng chưa thanh toán với chị D đối với 05 lô gồm: Lô 37 ALK64=1.450.000.000 đồng, Lô 20 ALK52=935.000.000 đồng, Lô 21 ALK52=1.450.000.000 đồng, Lô 50 ALK64=1.450.000.000 đồng, Lô 39 ALK31=500.000.000 đồng. Tổng là 5.785.000.000 đồng. Tuy nhiên, tính đến ngày 24/5/2022, anh đã trả số tiền 2.200.000.000 đồng (không thoả thuận cụ thể trả dứt điểm lô nào).
Tại Biên bản ghi lời khai ngày 07/04/2023 tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, chị Nguyễn Thị D trình bày:
Tại dự án BIGC, chị và H1 thực hiện giao dịch đặt cọc đối với 09 lô dất:
- - Lô 20 ALK52, tổng số tiền đặt cọc là 935.000.000 đồng.
- - Lô 21 ALK52, tổng số tiền đặt cọc là 1.450.000.000 đồng. Hợp đồng ban đầu đặt cọc giữ chỗ mang tên Nguyễn Thị Thu T, vào hợp đồng thì mang tên Trần Thị U. Sau đó chị mua lại hợp đồng này của chị U.
- - Lô 50 ALK64, tổng số tiền đặt cọc là 1.950.000.000 đồng. Hợp đồng ban đầu đặt cọc giữ chỗ mang tên Nguyễn Thị Thu T, vào hợp đồng chị bỏ tiền ra nhưng mang tên Hoàng Thị L.
- - Lô 37 ALK64, tổng số tiền đặt cọc là 1.550.000.000 đồng. Hợp đồng ban đầu viết giấy nhận đặt cọc số tiền 100.000.000.000 đồng mang tên Nguyễn Thị Hồng H5, sau đó vào tiền hợp đồng đặt cọc mang tên Nguyễn Thị Thu T, sau đó chuyển tên hợp đồng sang tên Lê Thị Hoàng K.
- - Lô 39 BLK31, đặt cọc cùng Lô 31 BLK31, tổng tiền đặt cọc 1.000.000.000 đồng, tức là Lô 39 BLK31 đặt cọc 500.000.000 đồng.
- - Lô 31 BLK31, đặt cọc cùng Lô 39 BLK31, tổng tiền đặt cọc 1.000.000.000 đồng, tức là Lô 31 BLK31 đặt cọc 500.000.000 đồng.
- - Lô 25 BLK26, Quyền trực tiếp đặt cọc 500.000.000 đồng.
- - Lô 42 BLK26, chị đặt cọc 500.000.000 đồng, sau đó chị và chị Nguyễn Thị D1 cùng góp và vào tiền đủ đến số tiền 2.750.000.000 đồng.
- - Lô 13 BLK43, chị đặt cọc 200.000.000 đồng sau đó giao dịch không thành công.
Các lô đã thanh lý: Lô 31BLK31 H1 đã trả 500.000.000 đồng; Lô 13BLK43 H1 đã trả lại 200.000.000 đồng; Lô 25BLK26 H1 trực tiếp trả lại Đinh Xuân Q số tiền 500.000.000 đồng; Lô 42BLK26 H1 trực tiếp trả lại Nguyễn Thị D1 và chị số tiền 2.750.000.000 đồng;
Các lô chưa thanh lý gồm: Lô 20ALK52, Lô 21ALK52, Lô 37ALK64, Lô 39BLK31, Lô 50ALK64. Tính từ ngày 12/4/2022, H1 bắt đầu thanh lý đối với 05 lô đất này, giữa chị và H1 không thoả thuận cụ thể thanh lý dứt điểm hợp đồng đặt cọc lô đất nào mà H1 chuyển tiền chung đến ngày 24/5/2022, tổng số tiền chuyển trả cho chị là 2.200.000.000 đồng.
Công ty cổ phần C cung cấp: ngày 07/8/2018, Công ty cổ phần C và UBND tỉnh B ký hợp đồng số 01/2018/HĐ.BT-UBND về việc thực hiện dự án: Xây dựng ĐT289 kéo dài (đoạn từ thị trấn C đi Đ, nối QL31 với ĐT293); đường N kéo dài; hệ thống tiêu thoát nước và giao thông khu A,B thuộc khu đô thị P, thành phố B theo hình thức hợp đồng Xây dựng- chuyển giao (BT). Công ty được giao thực hiện dự án: Khu S, số I thuộc khu đô thị P, thành phố B để thanh toán dự án BT theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.
Công ty cổ phần C đã tổ chức triển khai thực hiện dự án đúng quy định pháp luật, thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm với cơ quan chức năng, khách hàng đối tác. Liên quan đến lô đất 20-phân lô A-LK-52 tại dự án khu S, số I thuộc khu đô thị P, thành phố B, qua kiểm tra hồ sơ, tài liệu thể hiện:
- Công ty Cổ phần C không ký hợp đồng, văn bản, thoả thuận, giao kết liên quan tới lô đất 20-phân lô A-LK-52 tại dự án khu S, số I thuộc khu đô thị P, thành phố B với ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị D.
- Thời điểm ngày 02/8/2021, lô đất 20-phân lô A-LK-52 tại dự án khu S, số I thuộc khu đô thị P, thành phố B Công ty đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất nhưng chưa thông báo đủ điều kiện chuyển nhượng cho chủ đầu tư cấp II.
- Thời điểm ngày 02/8/2021, bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1993, địa chỉ: Nhà A, ngõ B, đường V, phường H, thành phố B không đứng tên trực tiếp trên Hợp đồng, hồ sơ, giấy tờ quyền sử dụng hợp pháp đối với đất cứ lô đất nào tại dự án khu S, số I thuộc khu đô thị P, thành phố B do Công ty làm chủ đầu tư. Việc các cá nhân, tổ chức có nhờ người khác đứng tên hộ hoặc tiến hành các giao dịch với cá nhân, tổ chức khác hay không Công ty không biết và không có liên quan.
- Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1993, địa chỉ: Nhà A, ngõ B, đường V, phường H, thành phố B không trực tiếp nhận chuyển nhượng từ Công ty quyền sử dụng đất thuộc dự án khu S, số I thuộc khu đô thị P, thành phố B do Công ty làm chủ đầu tư. Việc các cá nhân, tổ chức có nhờ người khác đứng tên hộ hoặc tiến hành các giao dịch với cá nhân, tổ chức khác hay không Công ty không biết và không có liên quan.
Với nội dung trên, bản án dân sự số 01/2024/DS-ST ngày 08/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã căn cứ Điều 429, Điều 116, khoản 1 Điều 275 và Điều 328 của Bộ luật Dân sự. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H, buộc chị Nguyễn Thị D trả anh Nguyễn Văn H số tiền đặt cọc là 935.000.000 đồng theo Hợp đồng đặt cọc ngày 02/8/2021.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H về buộc chị Nguyễn Thị D phải trả cho anh Nguyễn Văn H số tiền phạt 285.000.000 đồng theo Hợp đồng đặt cọc ngày 02/8/2021.
- Đình chỉ yêu cầu của anh Nguyễn Văn H về buộc chị Nguyễn Thị D trả số tiền phạt cọc 950.000.000 đồng theo theo Hợp đồng đặt cọc ngày 02/8/2021
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lãi suất chậm thanh toán, quyền yêu cầu thi hành án quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
Ngày 06/02/2024, bị đơn – chị Nguyễn Thị D kháng bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Chị D cho rằng chị không phải là người nhận cọc của anh H mà việc nhận đặt cọc, giao tiền là giữa anh H với anh H1, chị chỉ đưa anh H đến để gặp và ký hợp đồng, giao tiền cho anh H1. Chị đề nghị tạm ngừng phiên tòa để cung cấp các tài liệu chứng cứ chứng minh việc này. Sau khi tạm ngừng chị D không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ trên cho Tòa án.
Anh H khẳng định việc đặt cọc số tiền trên là giữa anh và chị D, anh không quen biết anh H1, việc đặt cọc, chuyển tiền có hợp đồng chứng minh nên không chấp nhận lời trình bày trên của chị D.
Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thư ký, HĐXX đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của chị D, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX phúc thẩm: căn cứ khoản 1 Điều 308 của BLTTDS không chấp nhận kháng cáo của chị D, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Chị D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: tại phiên tòa người liên quan anh Nguyễn Sinh H1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 296 tiếp tục xét xử vụ án.
[2]. Về kháng cáo của chị D, HĐXX thấy: quá giải quyết vụ án, anh H và chị D đều thừa nhận ngày 02/8/2021 các bên có ký kết hợp đồng đặt cọc, theo đó: “Bên A (anh H) đặt cọc cho bên B (chị D) số tiền: lần 1, 200.000.000 đồng vào ngày 14/7/2021, lần 2, 750.000.000 đồng vào ngày 2/8/2021, tổng tiền cọc là 950.000.000 đồng. Thời hạn đặt cọc từ ngày 01/8/2021 đến ngày 14/11/2021; Bên A đồng ý mua của Bên B Lô 20-AKL52 của chủ đầu tư 379 thuộc Khu đô thị P, tỉnh Bắc Giang với số tiền là 2.000.000.000 đồng bao gồm toàn bộ chi phí ra sổ đỏ. Bên B nhận đủ 950.000.000 đồng và có trách nhiệm thanh toán với bên vào hợp đồng cho ông Nguyễn Văn H.... Cam kết thời hạn vào hợp đồng cho ông H với Chủ đầu tư 379 chậm nhất là 14/11/2021”.
[3]. Khi ký hợp đồng đặt cọc, anh H đã giao đủ số tiền đặt cọc 935.000.000 đồng cho chị D, cụ thể: lần 1 giao số tiền 200.000.000 đồng qua chuyển khoản cho chị D; lần 2 giao số tiền 735.000.000 đồng cho anh Nguyễn Sinh H1 theo yêu cầu của chị D. Hết thời hạn đặt cọc, anh H không được ký kết hợp đồng với chủ đầu tư như chị D đã cam kết.
[4]. Tại cơ quan điều tra, anh H1 và chị D đều thừa nhận anh H1 thực hiện các giao dịch đặt cọc với chị D 09 lô đất tại dự án khu đô thị P thành phố B, trong đó có Lô 20ALK52. Sau khi xác định các giao dịch đặt cọc này không thành công, không thể giao được đất thì anh H1 và chị D đã thoả thuận thanh lý các hợp đồng đặt cọc, trong đó anh H1 đã thanh toán cho chị D 04 lô: Lô 31BLK31, Lô 13BLK43, Lô 25BLK26, Lô 42BLK26. Đối với 05 lô còn lại trong đó có Lô 20ALK52 đều được H1 và D thừa nhận đã thanh toán cho nhau tổng số tiền 2.200.000.000 đồng, giữa H1 và D không thoả thuận thanh toán dứt diểm hợp đồng đặt cọc đối với lô đất nào.
Như vậy, giữa anh H1 và chị D có thực hiện giao dịch đặt cọc đối với Lô 20ALK52 và trong tổng số tiền 2.200.000.000 đồng anh H1 đã thanh toán cho chị D bao gồm thanh toán đối với cả Lô 20ALK52. Số tiền còn lại chưa thanh toán của 05 lô Lô 21ALK51, Lô 37ALK64, Lô 39ALK31, Lô 50ALK64 và Lô 20ALK52 tại các biên bản lấy lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B của cả anh H1 và chị D đều thể hiện là anh H1 chưa thanh toán cho chị D, không thể hiện anh H1 phải thanh toán cho anh H.
Do đó có căn cứ xác định Hợp đồng đặt cọc ngày 2/8/2021 là giao dịch giữa anh H và chị D nên chị D là người có trách nhiệm trả cho anh H số tiền cọc 935.000.000 đồng theo quy định tại Điều 116, khoản 1 Điều 275, Điều 328 của Bộ luật Dân sự như nhận định của bản án sơ thẩm.
Tòa án sơ thẩm nhận định nếu có tranh chấp với anh H1 về tiền đặt cọc của Lô 20ALK52 thì chị D có quyền khởi kiện đối với anh H1 bằng một vụ án khác là có cơ sở.
[5] Về yêu cầu khởi kiện của của anh H đối với số tiền 285.000.000 đồng là tiền phạt do vi phạm Điều 4 của Hợp đồng đặt cọc mua bán đất ngày 02/8/2021, HĐXX thấy: tại hợp đồng đặt cọc ngày 2/8/2021, chị D cam kết thời hạn vào hợp đồng cho anh H với chủ đầu tư 379 chậm nhất là 14/11/2021. Đối tượng của hợp đồng đặt cọc là lô đất số Lô 20 ALK52, địa chỉ thửa đất: khu đô thị P. Tại văn bản số 96/CV-379 ngày 19/8/2023 của Công ty Cổ phần C thể hiện: “Công ty cổ phần C không ký hợp đồng, văn bản, thoả thuận, giao kết liên quan tới lô đất 20-phân lô A-LK-52 tại dự án khu S, số I thuộc khu đô thị P, thành phố B với ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị D. Thời điểm ngày 02/8/2021, lô đất 20-phân lô A-LK-52 tại dự án khu S, số I thuộc khu đô thị P, thành phố B Công ty đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất nhưng chưa thông báo đủ điều kiện chuyển nhượng cho chủ đầu tư cấp II. Thời điểm ngày 02/8/2021, bà Nguyễn Thị D không trực tiếp nhận chuyển nhượng từ Công ty, không đứng tên trực tiếp trên Hợp đồng, hồ sơ, giấy tờ quyền sử dụng hợp pháp đối với đất cứ lô đất nào tại dự án khu S, số I thuộc khu đô thị P, thành phố B do Công ty làm chủ đầu tư”.
Như vậy, chị D không được Công ty Cổ phần C ủy quyền hay ký hợp đồng thỏa thuận được nhận đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng đối với lô đất trên nhưng vẫn nhận đặt cọc với anh H. Bên đặt cọc là anh H biết rõ chị D chỉ là môi giới, trung gian nhưng vẫn ký hợp đồng mà không tìm hiểu kỹ về đối tượng hợp đồng là các lô đất của Dự án khu đô thị phía Nam thành phố B do Công ty Cổ phần C là nhà đầu tư đã được mở bán hay chuyển nhượng quyền sử dụng chưa, chị D có được Công ty Cổ phần C ủy quyền hay ký hợp đồng thỏa thuận được nhận đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng các lô đất ở của Dự án khu đô thị phía nam thành phố B hay không.
Tòa án sơ thẩm xác định, đối tượng của hợp đồng đặt cọc trên không thể thực hiện được, cả anh H và chị D đều có lỗi ngang nhau nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của anh H đối với số tiền 285.000.000 đồng là tiền phạt do vi phạm Điều 4 của Hợp đồng đặt cọc mua bán đất ngày 02/8/2021 là có căn cứ.
[6]. Chị D cho rằng anh H1 là người trực tiếp nhận tiền cọc của anh H nên không đồng ý trả tiền cọc cho anh H, tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án có căn cứ khẳng định việc chị D đặt cọc nhận chuyển nhượng lô đất trên của anh H1 sau đó chị D nhận đặt cọc với anh H để chuyển nhượng lại lô đất này cho anh H. Như vậy đây là hai giao dịch khác nhau giữa các chủ thể khác nhau. Quá trình xét xử phúc thẩm, chị D đề nghị tạm ngừng phiên tòa để chị thu thập cung cấp các hợp đồng do anh H1 là người trực tiếp nhận đặt cọc của anh H nhưng đến phiên tòa hôm nay chị D không cung cấp được các hợp đồng này. Chị D kháng cáo nhưng không đưa ra được căn cứ chứng minh cho nội dung kháng cáo của mình nên không có căn cứ để HĐXX chấp nhận kháng cáo của chị D. Vì vậy cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa.
[7]. Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ Luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị D, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 08/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001592 ngày 06/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Hà Giang |
Bản án số 116/2024/DS-PT ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 116/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: DẶT CỌC
