Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO BẰNG

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2024/HS-ST

Ngày: 01/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Văn Hải.

2. Ông Nguyễn Thanh Vũ.

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Triệu Bảo Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Quỳnh Như - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 98/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 186/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giữa điểm cầu trung tâm là Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng và điểm cầu thành phần là Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo:

Họ và tên: Nông Văn N; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 07/3/1985 tại huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi ĐKHKTT: xóm N, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Chỗ ở hiện nay: Tổ I, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nông Văn V, sinh năm 1962, con bà: Hoàng Thị Í, sinh năm 1964, cùng trú tại: xóm N, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Anh chị em ruột: có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Trần Thị Linh N1, sinh năm 1982, trú tại: xóm N, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Con: có 01 con sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng kể từ ngày 23/4/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam theo Quyết định Tạm giam số 182/2024/HSST-QĐTG ngày 19/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng. Có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hà Thị H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C – Sở tư pháp tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ khoảng đầu tháng 4/2024, Nông Văn N (sinh năm 1985; trú tại: xóm N, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng) từ nhà đến thành phố C làm thuê và có thuê phòng trọ tại Tổ I, phường N, thành phố C. Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 23/4/2024, Nông Văn N một mình đi bộ từ phòng trọ đến khu vực đầu cầu treo thuộc Tổ A, phường N, thành phố C để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, Nguyễn gặp một người đàn ông không quen biết, dáng giống người nghiện nên hỏi mua ma túy với số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Nguyễn đưa tiền, người đàn ông này cầm tiền rồi đưa lại cho N 01 gói ma túy bằng giấy viết màu trắng. Sau đó, người đàn ông này đi đâu không rõ. Nguyễn cất gói ma túy vừa mua được vào trong túi quần đằng trước bên trái chiếc quần đang mặc trên người rồi đi bộ hướng về phòng trọ của mình. Khi vừa đi được một đoạn đến khu vực thuộc tổ A, phường N, thành phố C thì N bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố Cao bắt quả tang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (vào hồi 12 giờ 00 phút cùng ngày). Nguyễn tự giác giao nộp từ trong túi quần đằng trước bên trái chiếc quần đang mặc trên người 01 (một) gói giấy viết màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột.

Hồi 14 giờ 00 phút ngày 23/4/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành cân xác định khối lượng số ma túy đã thu giữ. Kết quả khối lượng chất bột màu trắng đã thu giữ là 0,11gam (không phẩy mười một gam). Ngày 23/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra Quyết định trưng cầu giám định số 530 đối với vật chứng vụ án. Tại Bản kết luận giám định số 258/KL-KTHS ngày 29/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận “mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H)”.

Tại Cáo trạng số: 106/CT-VKSTP ngày 17/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Nông Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nông Văn N thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí với khối lượng ma túy bị thu giữ cũng như kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh C. Ngày 23/4/2024 bị cáo mua ma tuý nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích gì khác. Bị cáo có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm do bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn nên đề nghị được xem xét miễn án phí.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nông Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Đề nghị xử phạt bị cáo Nông Văn N từ 12 đến 14 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi số 258/KL-KTHS hoàn mẫu vụ Nông Văn N, tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo bà Hà Thị H – Trợ giúp viên pháp lý trình bày: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng, các đề nghị về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng và án phí. Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.

Bị cáo nhất trí với quan điểm bảo vệ của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm được trở về với xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong vụ án, do đó, có đủ căn cứ để xác định: Hồi 12 giờ 00 phút ngày 23/4/2024 tại tổ A, phường N, thành phố C, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố C bắt quả tang Nông Văn N có hành vi tàng trữ trái phép 0,11g (không phẩy mười một) Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng là người có sử dụng ma tuý. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4] Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và khối lượng chất ma túy bị cáo tàng trữ, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo và đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm ma túy nói chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với số ma tuý hoàn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[6] Các vấn đề khác: Đối với nguồn gốc số ma túy, Nguyễn khai được mua với một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C không có đủ căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo Nông Văn N là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế khó khăn, có đơn xin miễn án phí nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng và người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Nông Văn N 12 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 23/4/2024.

  2. Về xử lý vật chứng và tài sản: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xử:

    Tịch thu tiêu hủy: 01(một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Số 258/KL – KTHS. Hoàn mẫu vụ Nông Văn N, bắt ngày 23/4/2024 - Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Đã có Kết luận giám định số 258/KL-KTHS ngày 29/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh C).

    Xác nhận vật chứng của vụ án đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 126 ngày 19/6/2024.

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Nông Văn N là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Cao Bằng;
  • - Công an tỉnh Cao Băng;
  • - Sở tư pháp;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát TP Cao Bằng;
  • - Công an TP Cao Bằng;
  • - Thi hành án DS TP Cao Bằng;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 116/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nông Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger