TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 116/2024/HSST Ngày 01/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Hữu Hiển.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Văn Bình, ông Kiều Văn Dậu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Mai Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên phong tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 120/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 7năm 20234 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Đình R, sinh năm 1994.
Nơi cư trú: Xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Vũ Đình R1, sinh năm 1958; Con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1959; Gia đình bị cáo có 09 anh chị em, bị cáo là con thứ tám; có vợ: Trần Thị P, sinh năm 1994; con: có 04 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2020.
- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Bị hại:
- Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1997; trú tại: Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982; trú tại: Thôn Ấ, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Vũ Đình H, sinh năm 1997; trú tại: Xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
- - Anh Trương Văn H1, sinh năm 1993; trú tại: Thôn Ô, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 29/5/2024, Vũ Đình R đi bộ tại thôn Á, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh để xem có ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi R đi đến trước cổng nhà anh Nguyễn Văn T1, thì phát hiện thấy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamah Taurus SR BKS: 19C1-199.26 của Nguyễn Văn D, sinh năm 1997, HKTT: thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đang dựng ở cổng, khóa xe vẫn cắm ở ổ điện của xe. Rung quan sát không có người trông giữ, tiến lại gần chiếc xe, dùng 2 tay đẩy xe mô tô đi được khoảng 3 đến 4 mét thì bị anh D và anh T1 phát hiện hô hoán đuổi theo R. Rung bỏ chạy được khoảng 100 mét thì bắt giữ được R.
Ngoài ra, R còn khai nhận: Khoảng 8 giờ ngày 27/5/2024 R đi bộ đến Ấp Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh để xem có ai sơ hở thì trộm cắp tài sản bán lấy tiền ăn tiêu. Khi R đi đến trước cổng nhà anh Nguyễn Văn T thì phát hiện thấy 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu 133 Mplus màu đen của anh T dựng ở sát cổng. Cổng mở, R đi bộ vào trong nhà thấy không người trông coi, R dắt xe đạp điện trên đi đến nhà anh Trương Văn H1, sinh năm 1993 ở thôn Ô, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh bán với giá 1.800.000 đồng, số tiền này R đã ăn tiêu hết.
Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 38 ngày 31/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y, tỉnh Bắc Ninh kết luận:
“01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamah Tau rus SR BKS: 19C1-199.26 trị giá 2.100.000 đồng;
01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu 133 Mplus màu đen trị giá 2.500.000 đồng” .
Bản Cáo trạng số 122/CT-VKSYP ngày 16/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố Vũ Đình R về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại là anh Nguyễn Văn D, anh Nguyễn Văn Thanh vắng M tại phiên tòa nhưng qua lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Anh D đã nhận lại xe mô tô nhãn hiệu Yamah Tau rus SR BKS: 19C1-199.26. Anh T đã chiếc xe đạp điện nhãn hiệu
133 Mplus màu đen. Anh D và anh T và không yêu cầu bị cáo R phải bồi thường gì thêm, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo R.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình R phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt : Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt: Vũ Đình R từ ..... đến .....tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ ....đến .....tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả tự do cho bị cáo Vũ Đình R ngay tại phiên tòa nếu bị cáo R không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại đã được nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xem xét giải quyết.
- Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xem xét giải quyết.
- Về vật chứng: Không có.
Lưu hồ sơ 01 USB lưu hình ảnh tại hiện trường.
Bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố
tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thu thập, đã đủ cơ sở kết luận:
- Ngày 27/5/2024, tại thôn Ấ, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Vũ Đình R trộm cắp 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu 133 Mplus màu đen trị giá 2.500.000 đồng của anh Nguyễn Văn T.
- Ngày 29/5/2024, tại thôn Ấ, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Vũ Đình R trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamah Taurus SR BKS: 19C1-199.26 trị giá 2.100.000 đồng của anh Nguyễn Văn D.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, tài sản trộm cắp có tổng trị giá 4.600.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, vì vậy cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội hai lần nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Như vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự. Do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội, cho bị cáo cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đảm bảo giáo dục đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Nguyễn Văn D và anh Nguyễn Văn T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Anh Vũ Đình H là em ruột của bị cáo R đã bồi thường cho anh Trương Văn H1 số tiền 1.800.000 đồng. Anh H1 không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết
[5] Về các vấn đề khác: Đối với anh Trương Văn H1 là người đã mua xe đạp điện nhãn hiệu 133 Mplus, H1 không biết xe đạp điện do R phạm tội mà có. Do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý đối với anh H1 là phù hợp.
Lưu hồ sơ 01 USB lưu hình ảnh tại hiện trường.
[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình R phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt : Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Đình R tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là ........ tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 01/8/2024.
Áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả tự do cho bị cáo Vũ Đình R ngay tại phiên tòa nếu bị cáo R không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Vũ Đình R cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định giám giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về vật chứng: Không có.
Lưu hồ sơ 01 USB lưu hình ảnh tại hiện trường.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Vũ Đình R phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Tạ Hữu Hiển |
Bản án số 116/2024/HSST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 116/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Đình Rung - TCTS
