TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 116/2025/HS-ST
Ngày: 17-6-2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trúc Thiện.
Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Hùng.
Ông Nguyễn Văn Chiến.
Bà Nguyễn Thị Chi.
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lưu Hải Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Ông Nguyễn Tiến Dũng- Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 137/2025/QĐXXST ngày 30 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
Họ và tên: Lê Phi D, sinh ngày: 14/12/1999; Tại tỉnh Đồng Nai. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; CCCD số [...] cấp ngày 27/8/2022 tại Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; Hộ khẩu thường trú: Tổ G, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở: D, tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Lê Phi T, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1971; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai và chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/01/2025, chuyển tạm giam từ ngày 24/01/2025 đến nay tại trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
Người bào chữa theo chỉ định của bị cáo Lê Phi D: Luật sư Nguyễn Tấn Phước V - thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.
Họ và tên: Lê Nguyễn Khắc T1, sinh ngày: 03/6/2003; Tại tỉnh Đồng Nai; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; CCCD số [...] cấp ngày 25/4/2021 tại Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; Hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: 104/1, Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Lê Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1970; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai và chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2024, chuyển tạm giam từ ngày 25/12/2024 đến nay tại trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
Người bào chữa theo chỉ định của bị cáo Lê Nguyễn Khắc T1: Luật sư Ngô Thị Thủy M1 - thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.
Họ và tên: Nguyễn Chí B, sinh ngày: 16/7/1997; Tại tỉnh Đồng Nai; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; CCCD số [...] cấp ngày 16/9/2021 tại Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; Hộ khẩu thường trú: Khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: D T, khu phố D, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1975. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Có vợ là Phan Ngọc T2, sinh năm 1993, có 02 con lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2024.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 15/12/2024, chuyển tạm giam từ ngày 25/12/2024 đến nay tại trại tạm giam Công an tỉnh Đ
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ông Lê Văn H1, sinh năm 1972; địa chỉ: Số A, Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; số điện thoại: 0933.802.xxx.
Chị Nguyễn Thị Hoàn M2, sinh năm 1999; địa chỉ: Số B, Tổ B, Khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Các bị cáo, người liên quan chị Nguyễn Thị Hoàn M2, các Luật sư có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lê Phi D, Lê Nguyễn Khắc T1 và Nguyễn Chí B là bạn bè quen biết ngoài xã hội và không có việc làm ổn định. D và B là người nghiện ma tuý, để có tiền tiêu xài và ma tuý sử dụng, trong khoảng thời gian từ ngày 25/11/2024 đến ngày 11/12/2024, Lê Phi D đã 04 lần sử dụng ứng dụng Telegram liên lạc để mua ma tuý khay và thuốc lắc của một người đàn ông tên B1 (không rõ nhân thân lai lịch) 04 gói ma tuý khay và 230 viên ma tuý thuốc lắc, cụ thể: Ngày 25/11/2024, mua 01 gói ma tuý thuốc lắc và 32 viên ma tuý thuốc lắc với giá 8.500.000 đồng; Ngày 30/11/2024, mua 01 gói ma tuý thuốc lắc và 32 viên ma tuý thuốc lắc với giá 8.500.000 đồng; Ngày 03/12/2024, mua 01 gói ma tuý khay và 68 viên ma tuý thuốc lắc với giá 17.500.000 đồng; Ngày 11/12/2024, mua 01 gói ma tuý khay và 98 viên ma tuý thuốc lắc với giá 25.500.000 đồng. Sau khi mua ma tuý, D mang về nơi ở sử dụng hết 04 gói ma tuý khay, 230 viên ma tuý thuốc lắc còn lại D 04 lần mang đến khu vực trước trường Trung học cơ sở L1 thuộc khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai bán cho Lê Nguyễn Khắc T1 với giá 60.000.000 đồng.
Từ ngày 25/11/2024 đến ngày 11/12/2024, Lê Nguyễn Khắc T1 đã 04 lần mua ma tuý thuốc lắc của Lê Phi D sau đó bán cho người nghiện với giá 300.000 đồng/01 viên thuốc lắc để kiếm lời, cụ thể: Ngày 25/11/2024, mua 32 viên ma tuý thuốc lắc của D với giá 8.500.000 đồng, sau đó bán bán lại với giá 9.600.000 đồng, thu lợi 1.100.000 đồng; Ngày 30/11/2024, mua 32 viên ma tuý thuốc lắc của D với giá 8.500.000 đồng, sau đó bán lại với giá 9.600.000 đồng, thu lợi 1.100.000 đồng; Ngày 03/12/2024, mua 68 viên ma tuý thuốc lắc của D với giá 17.500.000 đồng, sau đó bán lại với giá 20.400.000 đồng, thu lợi 2.900.000 đồng; Ngày 11/12/2024, mua 98 viên ma tuý thuốc lắc của D với giá 25.500.000 đồng, sau đó mang về nơi ở tại địa chỉ 1 khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cất giấu để bán cho người khác. Ngoài ra, tại khu vực gần quán M3, thuộc khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, T1 đã 02 lần mua ma tuý khay của một người đàn ông tên H2 (không rõ nhân thân lai lịch) với tổng số tiền là 1.600.000 đồng nhưng chưa trả tiền mua ma tuý cho H2, cụ thể: Ngày 15/12/2024 mua 01 gói ma tuý khay với giá 800.000 đồng; Ngày 16/12/2024 mua 01 gói ma tuý khay với giá 800.000 đồng. Mua được ma tuý của D và H2, T1 mang ma tuý bán cho nhiều người, thu lợi 5.100.000 đồng, trong đó ngày 15/12/2024 bán cho Nguyễn Chí B được 01 gói ma tuý khay giá 1.000.000 đồng và 02 viên ma tuý thuốc lắc giá 600.000 đồng. Khoảng 15 giờ ngày 16/12/2024, T1 mang 01 gói ma tuý khay và 02 viên ma tuý thuốc lắc đi bán, khi đi đến khu vực trước nhà số I, tổ B, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ: 01 gói nylon bên trong chứa chất màu trắng và 02 viên nén màu xám; 01 xe mô tô biển số 60F1-432.75, số khung: RLHJF461XEY600799, số máy: JF46E2001754, dung tích xi lanh: 124 cm³; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15, số IMEI: 354029280441131.
Vào lúc 14 giờ 46 phút ngày 15/12/2024, sau khi mua ma tuý, Nguyễn Chí B mang ma tuý đến khu vực “Chợ Đ" thuộc khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để bán cho một nam thanh niên không rõ nhân thân lai lịch. Khi đi đến trước nhà số C, tổ A, khu phố C phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an phường A kiểm tra, phát hiện hiện bắt quả tang, thu giữ: 01 gói nylon bên trong chứa chất màu xám, 01 viên nén màu xám và một phần viên nén màu xám; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS max màu trắng dung lượng 64GB, số IMEI: 357277099046198; 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu xanh gắn biển số 60F3-609.47, số khung: RLHJF58311Z44268, số máy: JF86E-5152921, dung tích xi lanh: 108 cm³.
Ngày 16/12/2024, Cơ quan Công an tiến hành khám xét chỗ ở đối với Lê Nguyễn Khắc T1, thu giữ: 01 túi nylon bên trong có chứa 94 viên nén màu xám. Ngày 21/01/2025, Cơ quan Công an tiến hành bắt, khám xét chỗ ở của Lê Phi D, thu giữ:: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max màu vàng, sim số: 0852888864, số IMEI: 356734111415497.
Các bị cáo Lê Phi D, Lê Nguyễn Khắc T1, Nguyễn Chí B trong quá trình điều tra khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
* Kết luận giám định số 2586/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của phòng K1 Công an tỉnh Đ về số ma túy thu giữ của Lê Nguyễn Khắc T1, kết luận:
“- Mẫu viên nén màu xám (Mẫu M11) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 1,1257gam, loại: MDMA.
- Mẫu chất màu trắng (Mẫu M12) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,8932gam, loại: Ketamine.
- Mẫu viên nén màu xám (Mẫu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 51,0735gam, loại: MDMA.”
* Kết luận giám định số 2588/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của phòng K1 Công an tỉnh Đ về số ma túy thu giữ của Nguyễn Chí B, kết luận:
“- Mẫu viên nén màu xám (mẫu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng M1=1,0679gam, loại: MDMA.
- Mẫu chất màu trắng (mẫu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng M2=0,6363gam, loại: Ketamine.”
Tại Cáo trạng số 99/CT-VKS-P1 ngày 09 tháng 4 năm 2025 của Viện 5kiểm sát nhân dân tỉnh Đ đã truy tố các bị cáo: Lê Phi D đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Lê Nguyễn Khắc T1 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Chí B đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) xử phạt bị cáo Lê Phi D từ 16 (mười sáu) năm tù đến 17 (mười bảy) năm tù.
Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Khắc T1 từ 17 (mười bảy) năm đến 18(mười tám) năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Chí B từ 02 (hai) năm đến 03(ba) năm tù.
Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì giấy niêm phong mẫu vật sau giám định, vụ số: 2586/KL-KTHS ngày 20/12/2024; 01 phong bì giấy niêm phong mẫu vật sau giám định, vụ số 2588/KL-KTHS ngày 20/12/2024.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xsmax màu trắng, số IMEI: 357277099046198, sim số: 0933813865; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15, số IMEI: 354029280441131, sim số: 0339206494; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12Promax màu vàng, số IMEI: 356734111415497, sim số: 0852888864.
Trả lại: Xe mô tô hiệu Honda, loại: AIR BLADE, biển số 60F1-432.75 cho ông Lê Văn H1 là chủ sở hữu; Xe mô tô hiệu Honda, loại: VISION, biển số 60F3-609.47 cho bà Nguyễn Thị Hoàn M2 là chủ sở hữu.
Buộc Lê Nguyễn Khắc T1 giao nộp số tiền 5.100.000 đồng thu lợi bất chính do phạm tội mà có để sung quỹ Nhà nước.
Luật sư Tấn Phước V bào chữa cho bị cáo D trình bày: về tội danh và hình phạt theo như cáo trạng đã truy tố thì thống nhất. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quá trình bị tạm giam bị cáo đã ăn năn hối cải, bị cáo có tuổi đời còn trẻ, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thể hiện rõ thái độ ăn năn hối cải, gia đình cha mẹ bị cáo thường xuyên làm từ thiện. Do đó, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Luật sư Ngô Thị Thủy M1 bào chữa cho bị cáo T1 trình bày: Về tội danh thống nhất theo cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, cha mất sơm, bị cáo còn trẻ nên việc nhận thức hậu quả của việc mua bán ma túy còn hạn chế, quá trình điều tra bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, bị cáo chưa có tiền án tiền sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Chí B thừa nhận hành vi phạm tội của mình và không tranh tụng gì thêm, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các Luật sư bào chữa cho các bị cáo, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo: Trong thời gian từ ngày 25/11/2024 đến ngày 11/12/2024, bị cáo D đã 04 lần mua 04 gói ma tuý khay và 230 viên ma tuý thuốc lắc (loại MDMA) trái phép của một người đàn ông tên B1 (không rõ nhân thân lai lịch) với tổng số tiền là 60.000.000 đồng. Sau đó, D mang về nhà sử dụng hết 04 gói ma tuý khay và bán cho Lê Nguyễn Khắc T1 04 lần 230 viên ma tuý thuốc lắc với giá 60.000.000 đồng. Vào ngày 15/12/2024 và ngày 16/12/2024, Lê Nguyễn Khắc T1 đã 02 lần mua 02 gói ma tuý khay (loại Ketamine) trái phép của một người đàn ông tên H2 (không rõ nhân thân lai lịch) với tổng số tiền là 1.600.000 đồng. Sau đó, T1 đã bán nhiều lần 134 viên ma tuý thuốc lắc và 01 gói ma tuý khay cho nhiều người với tổng số tiền là 39.600.000 đồng, thu lợi 5.100.000 đồng. Vào ngày 16/12/2024, T1 mang ma tuý đi bán thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang thu giữ: 1,1257gam ma tuý, loại MDMA, 0,8932 gam ma tuý, loại Ketamine. Đồng thời khám xét nơi ở của T1, thu giữ: 51,0735 gam ma tuý, loại MDMA Triệu cất giấu để bán.
Nguyễn Chí B sau khi mua của Lê Nguyễn Khắc T1 01 gói ma tuý khay và 02 viên ma tuý thuốc lắc với giá 1.600.000 đồng để bán, nhưng chưa bán được thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang thu giữ: 1,0679 gam ma tuý, loại MDMA, 0,6363 gam ma tuý, loại Ketamine.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo và diễn biến phiên tòa đã đủ cơ sở để xác định hành vi phạm tội cụ thể hành vi của bị cáo Lê Phi D đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Hành vi của bị cáo Lê Nguyễn Khắc T1 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Hành vi của bị cáo Nguyễn Chí B đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, mặc dù nhận thức được việc mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy dưới bất cứ hình thức nào đều bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết giảm nhẹ: Các Bị cáo Lê Phi D, Lê Nguyễn Khắc T1 và Nguyễn Chí B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự, các bị cáo có vợ và các con còn nhỏ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Triệu chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai cơ bản phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
[5] Quan điểm của Luật sư Tấn Phước V bào chữa cho bị cáo D và quan điểm của Luật sư Ngô Thị Thủy M1 bào chữa cho bị cáo T1 phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
[6] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì giấy niêm phong mẫu vật sau giám định, vụ số: 2586/KL-KTHS ngày 20/12/2024; 01 phong bì giấy niêm phong mẫu vật sau giám định, vụ số 2588/KL-KTHS ngày 20/12/2024.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xsmax màu trắng, số IMEI: 357277099046198, sim số: 0933813865; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15, số IMEI: 354029280441131, sim số: 0339206494; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12Promax màu vàng, số IMEI: 356734111415497, sim số: 0852888864.
Trả lại: Xe mô tô hiệu Honda, loại: AIR BLADE, biển số 60F1-432.75 cho ông Lê Văn H1 là chủ sở hữu; Xe mô tô hiệu Honda, loại: VISION, biển số 60F3-609.47 cho bà Nguyễn Thị Hoàn M2 là chủ sở hữu.
Buộc bị cáo Lê Nguyễn Khắc T1 giao nộp số tiền 5.100.000 đồng thu lợi bất chính do phạm tội mà có để sung quỹ Nhà nước.
[7] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Các vấn đề khác: Các đối tượng tên B1, H2 là người bán ma túy cho D và T1, đối tượng mua ma tuý của B, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau. Nên không xem xét
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố các bị cáo: Lê Phi D, Lê Nguyễn Khắc T1 và Nguyễn Chí B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
Xử phạt bị cáo Lê Phi D 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/01/2025. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Khắc T1 từ 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Chí B 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì giấy niêm phong mẫu vật sau giám định, vụ số: 2586/KL-KTHS ngày 20/12/2024; 01 phong bì giấy niêm phong mẫu vật sau giám định, vụ số 2588/KL-KTHS ngày 20/12/2024.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xsmax màu trắng, số IMEI: 357277099046198, sim số: 0933813865; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15, số IMEI: 354029280441131, sim số: 0339206494; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12Promax màu vàng, số IMEI: 356734111415497, sim số: 0852888864.
Trả lại: Xe mô tô hiệu Honda, loại: AIR BLADE, biển số 60F1-432.75 cho ông Lê Văn H1 là chủ sở hữu; Xe mô tô hiệu Honda, loại: VISION, biển số 60F3-609.47 cho bà Nguyễn Thị Hoàn M2 là chủ sở hữu.
- Buộc Lê Nguyễn Khắc T1 giao nộp số tiền 5.100.000 đồng thu lợi bất chính do phạm tội mà có để sung quỹ Nhà nước.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/5/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về hướng dẫn mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Trúc Thiện |
Bản án số 116/2025/HS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 116/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma tuý
