|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 116/2025/HS-PT
Ngày 24/11/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.
- Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Chung và bà Nguyễn Thị Minh Thu.
- Thư ký phiên toà: Bà Lương Mỹ Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Diễm Hạnh - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 24/11/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 143/2025/TLPT-HS ngày 10/10/2025 đối với các bị cáo Hoàng Văn T, Tạ Tuấn M do có kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn T, Tạ Tuấn M; bị hại ông Hoàng Văn Q, ông Trần Văn Đ, ông Trần Văn Đ1, đại diện theo ủy quyền của ông Bùi Thế N là bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn T2, ông Phạm Văn C, ông Vũ Trí C1, đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Công M1 là bà Nguyễn Thị N1, bà Hoàng Thị T3, ông Hoàng Văn T4, ông Hoàng Văn T5; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn V, ông Hoàng Trung T6 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 136/2025/HS-ST ngày 18/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh).
*Các bị cáo có kháng cáo:
- Họ và tên: Hoàng Văn T, sinh năm 1954; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn T, xã T, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang (nay là phường T, tỉnh Bắc Ninh); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Văn hóa: 7/10; Là Đảng viên Đ7 (Đình chỉ sinh hoạt đảng theo quyết định 113-QĐ/UBKTTU ngày 24/02/2025 của Ủy ban kiểm tra thành ủy B4); Bố: Hoàng Văn G (đã chết); Mẹ: Bùi Thị T7, sinh năm 1930; Gia đình có 14 chị em, bị cáo là thứ 2; Vợ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1958; Có 04 con, lớn sinh năm 1980, nhỏ sinh năm 1989; Tiền án, tiền sự: Không.
- Họ và tên: Tạ Tuấn M, sinh năm 1954; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn T, xã T, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang (nay là phường T, tỉnh Bắc Ninh); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Văn hóa: 8/10; Là Đảng viên Đ7 (Đình chỉ sinh hoạt đảng theo quyết định 114-QĐ/UBKTTU ngày 24/02/2025 của Ủy ban kiểm tra thành ủy B4); Bố: Tạ Văn T8 (đã chết); Mẹ: Vũ Thị T9 (đã chết); Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 2; Vợ: Phạm Thị L, sinh năm 1955; Có 04 con, lớn sinh năm 1982, nhỏ sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, (Có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại:
- Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1965, (vắng mặt).
- Ông Trần Văn H, sinh năm 1954, (vắng mặt).
- Ông Hoàng Văn Q, sinh năm 1969, (có mặt).
- Ông Nguyễn Văn L2, sinh năm 1975, (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn T10, sinh năm 1982, (vắng mặt).
- Ông Tạ Văn T11, sinh năm 1962, (vắng mặt).
- Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1977, (có mặt).
- Ông Trần Văn Đ1, sinh năm 1979, (vắng mặt)
- Ông Bùi Thế N, sinh năm 1986. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1959, (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1945, (có mặt).
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1960, (vắng mặt)
- Ông Bùi Văn T12, sinh năm 1963, (vắng mặt)
- Bà Tạ Thị O, sinh năm 1987, (có mặt)
- Ông Nguyễn Văn T13, sinh năm 1962, (vắng mặt)
- Ông Tạ Văn C2, sinh năm 1967 (Đã chết)
- - Bà Hoàng Thị V1, sinh năm 1966. (vắng mặt)
- - Chị Tạ Thị H1, sinh năm 1985. (vắng mặt)
- - Chị Tạ Thị C3, sinh năm 1987. (vắng mặt)
- - Chị Tạ Thị M2, sinh năm 1991. (vắng mặt)
- - Anh Tạ Thế A, sinh năm 2001. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn C4, sinh năm 1985, (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn M3, sinh năm 1967, (vắng mặt)
- Ông Phạm Văn C, sinh năm 1975, (có mặt)
- Ông Vũ Trí C1, sinh năm 1983, (vắng mặt)
- Bà Phạm Thị T14, sinh năm 1962, (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1983, (vắng mặt)
- Bà Hoàng Thị T3, sinh năm 1962, (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Công M1, sinh năm 1950 (Đã chết)
- - Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1954.
- - Chị Nguyễn Thị M4, sinh năm 1973.
- - Chị Nguyễn Thị Đ3, sinh năm 1974.
- - Anh Nguyễn Công T15, sinh năm 1977.
- - Chị Nguyễn Thị T16, sinh năm 1986.
- Ông Trần Văn H, sinh năm 1941, (Đã chết).
- - Bà Nguyễn Thị M5, sinh năm 1955.
- - Anh Trần Hồng P, sinh năm 1993.
- Ông Hoàng Văn T4, sinh năm 1958, (có mặt)
- Ông Nguyễn Xuân T17, sinh năm 1959, (có mặt)
- Ông Nguyễn Minh K, sinh năm 1965, (vắng mặt)
- Bà Vũ Thị Đ4, sinh năm 1947, (vắng mặt)
- Ông Hoàng Văn T18, sinh năm 1979, (vắng mặt),
- Ông Nguyễn Văn V2, sinh năm 1955, (có mặt).
- Ông Bùi Văn M6, sinh năm 1966, (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Tiến C5, sinh năm 1981, (có mặt)
- Ông Bùi Quang T19, sinh năm 1954, (vắng mặt)
- Ông Hoàng Văn D1, sinh năm 1984, (vắng mặt)
- Ông Hoàng Liên S, sinh năm 1946, (có mặt)
- Ông Hoàng Văn T5, sinh năm 1961, (có mặt)
- Ông Trần Văn V3, sinh năm 1966, (vắng mặt)
- Bà Phạm Thị C6, sinh năm 1968, (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn C7, sinh năm 1979, (có mặt)
- Ủy ban nhân dân thành phố B4,
Đại diện theo ủy quyền của ông N là bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1988. (có mặt).
Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1983, (vắng mặt)
* Đại diện hợp pháp của ông C2:
*Đại diện theo ủy quyền của chị H1, chị C3, chị M2, anh Thế A là: Bà Hoàng Thị V1, sinh năm 1966, (vắng mặt)
* Đại diện hợp pháp của ông M1:
Đại diện theo ủy quyền của chị M4, chị Đ3, anh T15, chị T16 là: Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1954. (vắng mặt)
Đại diện hợp pháp của ông H:
Đại diện theo ủy quyền của anh P là: bà Nguyễn Thị M5, sinh năm 1955. (vắng mặt)
Đều địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (nay là phường T, tỉnh Bắc Ninh)
Trú tại: Tổ dân phố D, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (Nay là Tổ dân phố D, phường Y, tỉnh Bắc Ninh)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị T20, sinh năm 1967, (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1957, (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1975, (vắng mặt)
- Ông Vũ Trí N3, sinh năm 1973, (vắng mặt)
- Anh Trần Dương N4, sinh năm 1980, (có mặt)
- Ông Nguyễn Văn T21, sinh năm 1967, (vắng mặt)
- Ông Trần Văn L3, sinh năm 1960, (vắng mặt)
- Ông Hoàng Thế V4, sinh năm 1962, (vắng mặt)
- Bà Tạ Thị K1, sinh năm 1964, (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Minh K, sinh năm 1965, (vắng mặt)
- Ông Bùi Quang T19, sinh năm 1954, (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn T13, sinh năm 1962, (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn T22, sinh năm 1961, (vắng mặt)
- Ông Hoàng Văn X, sinh năm 1967, (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1945, (vắng mặt)
- Bà Phạm Thị T14, sinh năm 1962, (vắng mặt)
- Ông Vũ Trí Đ5, sinh năm 1960, (vắng mặt)
- Ủy ban nhân dân xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Gang (Nay là phường T, tỉnh Bắc Ninh), (vắng mặt)
- Ông Bùi Xuân X1, sinh năm 1952, (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Ông Nguyễn Xuân K2, sinh năm 1958, (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn U, sinh năm 1965, (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1959, (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Ông Hoàng Trung T6, sinh năm 1983, (có mặt).
Đều địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (nay là phường T, tỉnh Bắc Ninh)
Địa chỉ: Thôn L, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (nay là phường T, tỉnh Bắc Ninh)
Đều địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (nay là phường T, tỉnh Bắc Ninh)
Địa chỉ: Thôn N, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (nay là phường T, tỉnh Bắc Ninh)
Địa chỉ: Thôn L, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (nay là phường T, tỉnh Bắc Ninh)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (nay là phường T, tỉnh Bắc Ninh)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (nay là phường T, tỉnh Bắc Ninh)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (nay là phường T, tỉnh Bắc Ninh)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thực hiện đề án xây dựng nông thôn mới ngày 20/4/2009, Tạ Tuấn M, sinh năm 1954 trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là xã T, tỉnh Bắc Ninh) là Bí thư Chi bộ thôn Đ chủ trì họp Chi bộ thôn và đưa ra chủ trương bán đất nông nghiệp công ích cho người dân trong thôn làm đất để lấy tiền sử dụng xây dựng đường bê tông trong thôn; khu vực bán đất là đoạn từ quán cô L4 đến ngã ba cống A (còn gọi tên là xứ đồng Mả Hồng, xứ đồng Sau Làng hoặc xứ đồng Đầu L5). Sau khi họp và được sự đồng ý của Chi bộ, Tạ Tuấn M giao cho Ban Q2 họp nhân dân trong thôn để xin ý kiến. Sau đó, Hoàng Văn T sinh năm 1954 trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là xã T, tỉnh Bắc Ninh) là Trưởng thôn Đan Phượng nhiệm kỳ 2008-2010 chủ trì tổ chức các cuộc họp nhân dân trong thôn để triển khai chủ trương giao, bán đất tại khu vực này và được toàn thể nhân dân tham gia họp nhất trí. Trong quá trình họp dân, Ban quản lý thôn và người dân có thống nhất bầu ra Ban xây dựng để thực hiện việc giao, bán đất thu tiền và xây dựng đường bê tông trong thôn gồm: Hoàng Văn T - Trưởng ban, Tạ Tuấn M - Phó ban và 09 người khác gồm: Nguyễn Minh K, sinh năm 1965 – thủ quỹ; Bùi Quang T19, sinh năm 1954- Kế toán; Nguyễn Văn T13, sinh năm 1962- Phó thôn; Nguyễn Văn T22, sinh năm 1934; Nguyễn Văn T22, sinh năm 1961; Hoàng Văn X, sinh năm 1967; Nguyễn Văn B, sinh năm 1945; bà Phạm Thị T14, sinh năm 1962 -Phó thôn; Vũ Trí Đ5, sinh năm 1960 - Cán bộ địa chính xã T đều trú tại thôn Đ, xã T. Ban xây dựng thống nhất giao cho ông Bùi Quang T19 - Kế toán viết phiếu thu khi người dân nộp tiền và ông Nguyễn Minh K - Thủ quỹ thực hiện thu tiền và quản lý số tiền đã thu.
Hoàng Văn T phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong Ban xây dựng. Sau đó, Ban xây dựng tiến hành đo đạc, khảo sát diện tích đất công ích đoạn từ quán cô L4 đến ngã ba cống A để phân lô. Hoàng Văn T trực tiếp dự kiến phân lô sau đó đưa ra họp và thống nhất phân lô với diện tích khoảng 165m2 /một lô. Căn cứ diện tích thực địa rồi phân chia thành 54 lô đất trong đó phía Đông có 19 lô và phía Tây có 35 lô. Ban xây dựng đã đo đạc và đóng cọc ngăn cách các lô đất. Lô có diện tích thấp nhất là 135,2 m2, lô có diện tích lớn nhất là 191,3 m2 .
Sau khi phân lô xong, Hoàng Văn T trực tiếp dự thảo giá của từng lô đất rồi tiến hành họp Ban xây dựng để lên giá cho từng lô đất và tổ chức họp dân trong thôn để thống nhất. Sau khi họp bàn thống nhất, B1 xây dựng có cho các hộ dân đăng ký mua đất. Những người đăng ký mua đất tiến hành bốc phiếu, ai bốc được lô nào thì sẽ phải nộp tiền theo giá đã thống nhất trước đó để mua đất. Sau đó, đã có 41 hộ dân ở thôn Đ nộp tiền để mua tổng số 54 lô đất gồm:
- Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1965 mua lô số 01 phía Đông với số tiền là 20.700.000 đồng;
- Ông Trần Văn H, sinh năm 1954 mua lô số 02 phía Đông với số tiền là 21.600.000 đồng (năm 2014 UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 02 lô đất trên cho ông H và ông L1);
- Ông Hoàng Văn Q, sinh năm 1969 mua 02 lô gồm: Lô số 03 phía Đông với số tiền là 22.500.000 đồng và lô số 21 phía Tây với số tiền là 21.600.000đồng;
- Ông Nguyễn Văn L2, sinh năm 1975 mua lô số 04 phía Đông với số tiền là 22.500.000 đồng;
- Ông Nguyễn Văn T10, sinh năm 1982 mua lô số 05 phía Đông với số tiền là 22.500.000 đồng;
- Ông Tạ Văn T11, sinh năm 1962 mua lô số 06 phía Đông với số tiền là 22.500.000 đồng (ngày 08/01/2010, ông T11 đã bán lô đất này cho ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1975 ở cùng thôn với giá 22.500.000 đồng);
- Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1977 mua lô số 07 phía Đông với số tiền là 22.500.000 đồng;
- Ông Trần Văn Đ1, sinh năm 1979 mua lô số 08 phía Đông với số tiền là 22.500.000 đồng;
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1988 mua lô số 09 phía Đông với số tiền là 22.000.000 đồng;
- Ông Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1959 mua lô số 11 phía Đông với số tiền là 17.100.000 đồng (năm 2012, ông Đ2 đã bán lô đất này cho ông Vũ Trí N3, sinh năm 1973 ở cùng thôn với giá 85.000.000 đồng; ông N3 bán thửa đất này cho ông Trần Dương N4, sinh năm 1980, trú tại thôn L, xã T với số tiền 85.000.000 đồng);
- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1945 mua lô số 12 và ½ lô số 13 phía Đông với tổng số tiền là 8.250.000 đồng;
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1960 lô số 13 và lô số 14 phía Đông với tổng số tiền là 6.250.000 đồng;
- Ông Bùi Văn T12, sinh năm 1979 mua 03 lô gồm: Lô S, lô S phía Đông với tổng số tiền là 9.000.000 đồng và lô 17 phía Tây với số tiền là 23.500.000 đồng (sau đó, ông T12 đã bán lô số 17 phía Tây cho ông Nguyễn Văn T21, sinh năm 1967, trú tại thôn L, xã T với giá 55.000.000đồng);
- Bà Tạ Thị O, sinh năm 1987 mua lô số 17 phía Đông với số tiền là 4.500.000 đồng;
- Ông Nguyễn Văn T13, sinh năm 1962 mua 03 lô gồm: Lô S, lô S phía Đông với tổng số tiền là 9.000.000 đồng và lô số 11 phía Tây với số tiền là 12.400.000 đồng;
- Bà Hoàng Thị V1, sinh năm 1966 mua lô số 01 phía Tây với số tiền là 21.600.000 đồng (sau đó, bà V1 đã bán lô đất này cho ông Trần Văn L3, sinh năm 1960, trú tại thôn L, xã T với giá 75.000.000 đồng);
- Ông Nguyễn Văn C4, sinh năm 1985 mua lô số 02 phía Tây với số tiền là 21.600.000 đồng;
- Ông Nguyễn Văn M3, sinh năm 1967 mua lô số 03 phía Tây với số tiền là 21.600.000 đồng;
- Ông Phạm Văn C, sinh năm 1975 mua 02 lô gồm: Lô số 04 phía Tây với số tiền là 20.700.000 đồng và lô số 19 phía Tây với số tiền là 21.600.000 đồng;
- Ông Vũ Trí C1, sinh năm 1983 mua lô số 05 phía Tây với số tiền là 20.700.000 đồng;
- Bà Phạm Thị T14, sinh năm 1962 mua lô số 06 phía Tây với số tiền là 20.700.000 đồng;
- Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1983 mua lô số 07 phía Tây với số tiền là 14.400.000 đồng;
- Bà Hoàng Thị T3, sinh năm 1962 mua lô số 08 phía Tây với số tiền là 14.400.000 đồng;
- Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1954, mua 02 lô gồm: Lô số 09 phía Tây với số tiền là 11.700.000 đồng và lô số 22 phía Tây với số tiền là 21.600.000 đồng;
- Bà Nguyễn Thị M5, sinh năm 1955 mua lô số 10 phía Tây với số tiền là 10.800.000 đồng;
- Ông Hoàng Văn T4, sinh năm 1983 mua lô số 12 phía Tây với số tiền là 19.800.000 đồng;
- Ông Nguyễn Xuân T17, sinh năm 1959 mua lô số 13 phía Tây với số tiền là 21.600.000 đồng;
- Ông Nguyễn Minh K, sinh năm 1965 mua 02 lô gồm: Lô số 14 phía Tây với số tiền là 21.600.000 đồng và lô số 25 phía Tây với số tiền 21.000.000 đồng;
- Bà Vũ Thị Đ4, sinh năm 1947 mua lô số 15 phía Tây với số tiền là 21.600.000 đồng;
- Ông Hoàng Văn T18, sinh năm 1979 mua 02 lô gồm: Lô S phía Tây với số tiền là 21.600.000 đồng và lô số 34 phía Tây với số tiền là 14.500.000 đồng (Sau đó, ông T18 đã bán lô số 16 cho ông Hoàng Thế V4, sinh năm 1962, trú tại thôn L, xã T với số tiền là 90.000.000 đồng và bán lô số 34 cho bà Tạ Thị K1, sinh năm 1964 ở cùng thôn với số tiền 14.500.000 đồng);
- Ông Nguyễn Văn V2, sinh năm 1955 mua lô số 18 phía Tây với số tiền là 23.000.000 đồng;
- Ông Bùi Văn M6, sinh năm 1966 mua lô số 20 phía Tây với số tiền là 21.600.000 đồng;
- Ông Nguyễn Tiến C5, sinh năm 1981 mua lộ số 23 phía Tây với số tiền là 21.600.000 đồng;
- Ông Bùi Quang T19, sinh năm 1954 mua 02 lô gồm: Lô số 24 phía Tây với số tiền là 21.600.000 đồng và lô số 29 phía Tây với số tiền là 4.500.000 đồng;
- Ông Hoàng Văn D1, sinh năm 1984 mua lô số 26 phía Tây với số tiền là 18.900.000 đồng;
- Ông Hoàng Liên S, sinh năm 1946 mua lô số 28 phía Tây với số tiền là 10.800.000 đồng;
- Ông Hoàng Văn T5, sinh năm 1961 mua 02 lô gồm: Lô số 30 phía Tây với số tiền là 4.500.000 đồng và lô số 31 phía Tây với số tiền là 4.500.000 đồng;
- Hoàng Văn T mua lô số 32 phía Tây với số tiền là 4.500.000 đồng;
- Ông Trần Văn V3, sinh năm 1966 mua lô số 33 phía Tây với số tiền là 5.500.000 đồng;
- Bà Phạm Thị C6, sinh năm 1968 mua lô phía Tây với số tiền là 16.300.000 đồng.
- Ông Nguyễn Văn C7, sinh năm 1979, trú tại: Tổ dân phố D, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang mua lô số 10 phía Đông với số tiền là 19.800.000 đồng.
Tổng số tiền thu được từ việc bán 54 lô đất là 867.300.000 đồng.
Hoàng Văn T nộp về UBND xã T 134.500.000 đồng để sử dụng vào việc xây trường mầm non của xã (Ông Nguyễn Văn S1 kế toán ngân sách xã viết phiếu thu, ông Nguyễn Văn U thủ quỹ UBND xã nhận tiền, ông Nguyễn Xuân K2 là Chủ tịch UBND xã ký phiếu thu, đóng dấu UBND xã). Số tiền còn lại được sử dụng vào việc xây dựng đường bê tông trong thôn và bàn giao lại cho Trưởng thôn khóa sau và đã sử dụng hết vào các khoản chi của thôn. Việc thu tiền và giao đất từ khoảng tháng 9/2009 đến ngày 26/12/2009. Quá trình bán đất cho các hộ dân thì giữa Ban xây dựng của thôn và người dân mua đất không ký kết hợp đồng, không có biên bản giao đất mà chỉ viết phiếu thu khi nộp tiền và giao cho người dân một bản.
Theo hồ sơ địa chính: Vị trí khu vực 54 lô đất hiện thuộc địa giới hành chính của thôn T, xã T. Toàn bộ diện tích này nằm trong tờ bản đồ địa chính số 64 của xã T. Vị trí các lô đất nằm hai bên (phía Đông và phía Tây) của đường tỉnh 293 và tuyến nhánh vào chùa V5.
Ngày 26/9/2024, Ủy ban nhân dân huyện Y đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Trần Văn H và hộ ông Nguyễn Văn L1 theo quy định tại Quyết định 191 ngày 27/6/2012 của UBND tỉnh B4 quy định về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với một số trường hợp vướng mắc tồn tại trước ngày 01/01/2012 cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, theo đó hộ ông H nộp 66.000.000 đồng (được đối trừ 21.600.000 đồng, còn phải nộp 44.400.000 đồng), hộ ông L1 nộp 66.000.000 đồng (được đối trừ 20.700.000 đồng, còn phải nộp 45.300.000 đồng) là tiền sử dụng đất vào ngân sách nhà nước.
Đối với 52 lô đất còn lại không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất nên không đủ điều kiện để lập hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Năm 2014 và năm 2015, Ủy ban nhân dân huyện Y tiến hành thu hồi đất để thực hiện dự án cải tạo nâng cấp đường tỉnh 293 và các tuyến nhánh vào chùa V5 trong đó có một phần diện tích của 52 lô đất thôn đã bán và thu tiền. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã đo đạc hiện trạng xác định:
- + Tổng diện tích 54 lô đất khi giao, bán năm 2009 là: 8.272,5 m2.
- + Tổng diện tích bị UBND huyện Y thu hồi là: 2.535,8 m2. Trong đó: 1.852,7 m2 bị thu hồi vào tháng 11/2014; 683,1 m2 bị thu hồi vào tháng 7/2015.
- + Tổng diện tích còn lại của các lô là: 5.736,7 m2. Trong đó, diện tích chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 5.472,7 m2 gồm một phần diện tích của 52 lô (17 lô phía đông ĐT 293 và 35 lô phía tây Tỉnh lộ 293 và tuyến nhánh vào chùa V5); diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 264 m2 gồm 2 lô phía đông Tỉnh lộ 293 (BL 831-845)
Cơ quan điều tra đã Yêu cầu định giá tài sản để xác định tiền thuê đất của các diện tích mà Ban Q2 đã giao bán trái thẩm quyền nêu trên.
Kết luận định giá tài sản số 79/KL-HĐĐGTS ngày 19/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận:
- - Giá trị tiền thuê 1.852,7 m2 đất công ích thuộc thôn Đ (nay là thôn T), xã T, huyện Y từ thời điểm bán trái thẩm quyền đến thời điểm thu hồi vào tháng 11/2014 là 1.667.430 đồng.
- - Giá trị tiền thuê 683,1 m2 đất công ích thuộc thôn Đ (nay là thôn T), xã T, huyện Y từ thời điểm bán trái thẩm quyền đến thời điểm thu hồi vào tháng 7/2015 là 796.950 đồng.
- - Giá trị tiền thuê 5.472,7 m2 đất công ích thuộc thôn Đ (nay là thôn T), xã T, huyện Y từ thời điểm bán trái thẩm quyền đến nay là: 26.816.230 đồng.
- Tổng số tiền thuê đất đối với diện tích : 8.272,5 m2 đất công ích bán trái thẩm quyền tính đến thời điểm hiện tại là 29.280.610 đồng (Hai mươi chín triệu hai trăm tám mươi nghìn sáu trăm mười đồng) (BL 105-107).
Kết luận định giá tài sản số 440/KL-HĐ ngày 17/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
- - Giá trị 132m² đất ở nông thôn tại thời điểm tháng 10/2009 do bản quản lý thôn Đ, xã T bán trái thẩm quyền cho hộ ông Trần Văn H là 132m² x 100.000 đồng/m² = 13.200.000 đồng.
- - Giá trị 132m² đất ở nông thôn tại thời điểm tháng 10/2009 do bản quản lý thôn Đ, xã T bán trái thẩm quyền cho hộ ông Nguyễn Văn L6 là 132m² x 100.000 đồng/m² = 13.200.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã thu giữ các sổ sách, giấy tờ liên quan gồm: 04 Phiếu thu của UBND xã T (ký hiệu giám định từ A; BL 1266-1269); các Phiếu thu tiền (ký hiệu giám định A, từ A5 đến A50; BL 1270-1316); 01 Quyển sổ bìa màu xanh, nhãn hiệu Hải Tiến, ngoài bìa sổ có chữ “Sổ ghi chép writing book” và ghi chữ “Nghị quyết thôn Đ” (BL 1141-1179); 01 Quyển sổ có bìa màu đỏ - hồng - vàng, nhãn hiệu Hải Tiến, ngoài bìa sổ có chữ “Võ lâm truyền kỳ REWARD”, ghi nhãn “Theo dõi công tác tình nghĩa” (BL1180-1215) cùng một số tài liệu liên quan và trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký trong các tài liệu thu giữ.
Kết luận giám định số 2809/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh B kết luận:
- - Hình dấu tròn có nội dung “U.B.N.D XÃ TRÍ YÊN H. YÊN DŨNG T BẮC GIANG” dưới các mục “Phụ trách kế toán”, “Thủ trưởng đơn vị” trên 04 Phiếu thu của UBND xã T do ông Hoàng Văn T giao nộp là do con dấu tròn của UBND xã T đóng ra;
- - Hình dấu chức danh có nội dung: “TM. UBND XÃ TRÍ YÊN-CHỦ TỊCH- NGUYỄN XUÂN K2” dưới các mục “Phụ trách kế toán”, “Thủ trưởng đơn vị” trên 04 Phiếu thu của UBND xã T do ông Hoàng Văn T giao nộp là do con dấu chức danh của ông Nguyễn Xuân K2 - Chủ tịch UBND xã T đóng ra;
- - Chữ ký mang tên Nguyễn Xuân K2 dưới các mục “Phụ trách kế toán”, “Thủ trưởng đơn vị” trên 04 Phiếu thu của UBND xã T do ông Hoàng Văn T giao nộp là chữ ký của ông Nguyễn Xuân K2;
- - Chữ ký mang tên Nguyễn Văn U dưới mục “Thủ quỹ” trên 04 Phiếu thu của UBND xã T do ông Hoàng Văn T giao nộp là chữ ký của ông Nguyễn Văn U;
- - Chữ ký, chữ viết trên 04 Phiếu thu của Ủy ban nhân dân xã T do ông Hoàng Văn T giao nộp trừ chữ ký, chữ viết dưới các mục “Phụ trách kế toán”, “Thủ trưởng đơn vị”, “Thủ quỹ” là chữ ký, chữ viết của ông Nguyễn Văn S1;
- - Chữ viết, chữ ký trên 46 Phiếu thu tiền do ông Hoàng Văn T giao nộp trừ chữ ký, chữ viết dưới các mục “Người nộp”, “Thủ quỹ” là chữ ký, chữ viết của ông Bùi Quang T19;
- - Chữ viết, chữ ký mang tên “Ng Minh K3” dưới mục “Thủ quỹ” trên 01 Phiếu thu và chữ viết tại Biên bản họp thôn Đan Phượng ngày 1/9/2009 (13/7/2009 âm lịch) trong Quyển sổ bìa màu xanh, nhãn hiệu Hải Tiến, ngoài bìa sổ có chữ “Sổ ghi chép writing book” và ghi chữ “Nghị quyết thôn Đ” là chữ viết của ông Nguyễn Minh K;
- - Chữ viết tại Biên bản họp thôn Đ ngày 28/4/2009 trong Quyển sổ bìa màu xanh, nhãn hiệu Hải Tiến, ngoài bìa sổ có chữ “Sổ ghi chép writing book” và ghi chữ “Nghị quyết thôn Đ” là chữ viết của ông Hoàng Văn H3;
- - Chữ viết tại Biên bản họp thôn Đ ngày 28/6/2009 âm lịch; ngày 24/7/2009 âm lịch và ngày 24/7/2009 âm lịch trong Quyển sổ bìa màu xanh, nhãn hiệu Hải Tiến, ngoài bìa sổ có chữ “Sổ ghi chép writing book” và ghi chữ “Nghị quyết thôn Đ” là chữ viết của ông Nguyễn Thành L7;
- - Chữ viết tại Biên bản họp cấp ủy mở rộng các ban ngành trong thôn tối ngày 06/9/2009 trong Quyển sổ bìa màu xanh, nhãn hiệu Hải Tiến, ngoài bìa sổ có chữ “Sổ ghi chép writing book” và ghi chữ “Nghị quyết thôn Đ” là chữ viết của ông Hoàng Văn T;
- - Chữ ký, chữ viết tại Biên bản họp toàn thể nhân dân thôn Đan Phượng ngày 09/09/2009 (21/7/2009 âm lịch) trong Quyển sổ bìa màu xanh, nhãn hiệu Hải Tiến, ngoài bìa sổ có chữ “Sổ ghi chép writing book" và ghi chữ “Nghị quyết thôn Đ” là chữ viết của ông Hoàng Văn T18;
- - Chữ viết tại Biên bản họp Chi bộ ngày 20/4/2009; ngày 20/7/2009; ngày 22/7/2009 trong Quyển sổ có bìa màu đỏ - hồng - vàng, nhãn hiệu Hải Tiến, ngoài bìa sổ có chữ “Võ lâm truyền kỳ REWARD”, ghi nhãn “Theo dõi công tác tình nghĩa” là chữ viết của ông Tạ Tuấn M (BL112-113).
Về xử lý những người liên quan:
Quá trình điều tra, Hoàng Văn T khai trước khi bán đất lấy tiền làm đường thì Hoàng Văn T có đến UBND xã T gặp trực tiếp ông Bùi Xuân X1 là Bí thư đảng ủy xã T để báo cáo thì ông Xanh đồng ý nhưng không có văn bản chỉ đạo gì. Ông Bùi Xuân X1 khai không biết việc Ban Q2 tiến hành bán đất công ích và cũng không có chỉ đạo gì. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa ông Hoàng Văn T và ông Bùi Xuân X1 nhưng các bên vẫn giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của bị can T thì không có tài liệu gì khác nên không có căn cứ xác định ông Bùi Xuân X1 đồng phạm.
Đối với ông Nguyễn Xuân K2 - chủ tịch UBND xã T thời điểm năm 2009, ông Vũ Trí Đ5 - cán bộ địa chính xã T thời điểm năm 2009, trong đó ông Đ5 có tham gia một số cuộc họp thôn ban đầu bàn về việc bán đất nhưng khi tổ chức thực hiện việc giao bán đất cho người dân thì ông Đ5 không tham gia. Ông Nguyễn Xuân K2 không có chỉ đạo giao, bán đất. Sau khi Ban quản lý thôn Đ nộp tiền về Ủy ban nhân dân xã T thì ông K2 kiểm tra mới biết sự việc. Do vậy không có căn cứ xử lý Nguyễn Xuân K2 và Vũ Trí Đ5 về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”. Tuy nhiên, ông K2 và Đ5 đã thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý đất đai có dấu hiệu của tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại khoản 2 Điều 360 Bộ luật Hình sự. Do đến nay đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên không có căn cứ xử lý.
Đối với các cá nhân trong Ban xây dựng gồm: Nguyễn Minh K; Nguyễn Văn B; Nguyễn Văn T22, sinh năm 1934; Nguyễn Văn T22, sinh năm 1961; Bùi Quang T19; Hoàng Văn X; Nguyễn Văn T13; Phạm Thị T14. Những người này đều được nhân dân trong thôn Đ bầu vào Ban xây dựng, làm theo chỉ đạo của ông Hoàng Văn T, vai trò không đáng kể và không được hưởng bất kỳ lợi ích gì từ việc này nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ các phiếu thu, phiếu chi của Ban quản lý thôn, các quyển sổ ghi chép họp chi bộ, họp thôn được lưu hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Ban đầu đại diện UBND xã T đề nghị các bị cáo bồi thường số tiền thuê đất bị thiệt hại là 29.280.610 đồng. Tuy nhiên tại lời khai sau này đại diện UBND xã T không có yêu cầu, đề nghị gì về việc bồi thường đối với các bị cáo; 38 người mua đất bị thiệt hại đề nghị được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất đã mua và đề nghị giải quyết theo pháp luật, chưa có yêu cầu bồi thường thiệt hại cụ thể. Đối với ông Trần Văn H và ông Nguyễn Văn L1 đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với lô đất đã mua nên không bị thiệt hại gì. Bị can Hoàng Văn T đã nộp số tiền 45.000.000 đồng để khắc phục hậu quả.
Tại Cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 13/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh) truy tố Hoàng Văn T và Tạ Tuấn M về tội: “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ” theo khoản 3 Điều 357 Bộ luật Hình sự.
Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 136/2025/HS-ST ngày 18/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh quyết định:
- Căn cứ khoản 3, khoản 5 Điều 357; điểm o, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Tạ Tuấn M.
- Căn cứ khoản 3, khoản 5 Điều 357; điểm o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Hoàng Văn T.
- Xử:
- Xử phạt bị cáo Tạ Tuấn M 07 (Bảy) năm tù về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”, Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”, Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Cấm bị cáo Tạ Tuấn M đảm nhiệm chức vụ liên quan đến quản lý thôn A (Một) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Cấm Hoàng Văn T đảm nhiệm chức vụ liên quan đến quản lý thôn A (Một) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
- Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Sung ngân sách nhà nước số tiền 45.000.000đồng thu tại biên lai thu tiền số 0000407 ngày 14/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng.
Tách vấn đề bồi thường trách nhiệm dân sự trong vụ án. Sau này nếu có yêu cầu, bị hại, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 28/7/2025, bị cáo Hoàng Văn T có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là quá nặng. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Ngày 30/7/2025, bị cáo Tạ Tuấn M có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là quá nặng. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất.
Ngày 31/7/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Trung T6 có đơn kháng cáo với nội dung: Anh T6 cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử lý số tiền anh nộp khắc phục hậu quả thay cho bị cáo T là chưa hợp lý, anh không đồng ý nộp vào ngân sách nhà nước mà phải khắc phục hậu quả cho bị hại. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên trả số tiền anh T6 phải nộp khắc phục hậu quả để bồi thường cho những người dân bị hại trong vụ án.
Ngày 31/7/2025, bị hại ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị N1, ông Phạm Văn C, ông Hoàng Văn T23, ông Hoàng Văn T4, ông Hoàng Văn Q, ông Vũ Trí C1, bà Hoàng Thị T3, ông Trần Văn Đ1, ông Nguyễn Văn T2, chị Nguyễn Thị T1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn V, có đơn kháng cáo với nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử còn bỏ lọt tội phạm, đề nghị Tòa cấp phúc thẩm truy tố thêm một số cán bộ tham mưu như cán bộ địa chính, thủ quỹ để xử đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm.
* Tại phiên toà phúc thẩm:
Bị cáo Hoàng Văn T trình bày: Án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “lạm quyền trong khi thi hành công vụ” là đúng người, đúng tội, không oan. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo như vậy là quá nặng. Bị cáo làm việc hoàn toàn vì lợi ích của người dân, chỉ vì đạt đích nông thôn mới. Bị cáo nộp bổ sung một số tài liệu mới là: bị cáo có bố đẻ là ông Hoàng Văn G được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, bản thân bị cáo đang thờ cúng chú ruột là Liệt sỹ Hoàng Văn Đ6 phiếu thu ủng hộ quỹ vì người nghèo năm 2025 cho Ủy ban mặt trận Tổ quốc phường T số tiền 1.000.000 đồng, ủng hộ quà tặng cho các em học sinh nghèo, có hoàn cảnh khó khăn trong dịp khai giảng năm học mới 2025-2026 của trường THCS T24, phường T.
Bị cáo Tạ Tuấn M trình bày: Bị cáo xác định án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai, bị cáo nhận thức có làm sai, vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, án sơ thẩm xét xử bị cáo như vậy là quá nặng. Bị cáo làm việc chỉ vì lợi ích của người dân, không có tư lợi cá nhân chỉ vì lợi ích của tập thể nhằm đạt đích nông thôn mới; bị cáo nộp bổ sung biên lai nộp tiền đóng khắc phục hậu quả trước khi xét xử cho Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh số tiền 3.000.000 đồng, số tiền này bị cáo tự nguyện nộp, các bị hại không yêu cầu thì bị cáo tự nguyện sung công quỹ nhà nước không yêu cầu nhận lại; bị cáo có đơn đề nghị giảm án có chữ ký nhân dân tại T, phường T, tỉnh Bắc Ninh ngày 16/7/2025; bị cáo thờ cúng Liệt sỹ Tạ Hồng N5 là anh trai bị cáo, hiện nay bị cáo tuổi cao, sức yếu, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bị hại ông Trần Văn Đ trình bày: đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại vì án sơ thẩm bỏ lọt đối với lãnh đạo xã T, ông S1, ông U.
Bị hại ông Phạm Văn C trình bày: nhất trí với trình bày của ông Đ đề nghị huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại.
Bị hại ông Hoàng Văn Q trình bày: Cơ quan điều tra đã sai là không đưa những người liên quan vào trong hồ sơ vụ án, bỏ lọt tội phạm.
Bị hại ông Trần Văn Đ1 trình bày: đề nghị huỷ Bản án sơ thẩm để điều tra, Uỷ ban nhân dân xã đã phá tài sản của gia đình ông mà chưa có quyết định cưỡng chế. Án sơ thẩm đã bỏ lọt đối với các cán bộ lãnh đạo xã T, bộ phận tham gia bán đất trái thẩm quyền.
Bị hại bà Hoàng Thị T3, anh Hoàng Văn T4, ông Nguyễn Xuân T17, ông Nguyễn Văn V2, ông Hoàng Văn T5, bà Tạ Thị O thống nhất trình bày: đồng ý với kháng cáo và trình bày của các bị hại khác. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị hại chị Nguyễn Thị T1 trình bày: nhất trí với trình bày của ông Q, ông Đ1, ông Đ6.
Bị hại đồng thời là người liên quan là ông Nguyễn Văn B trình bày: những người tham gia tố tụng là những người liên quan vắng mặt ông không đồng ý, Cơ quan điều tra đã bỏ lọt những người tham gia tố tụng trong vụ án như ông S1, ông K2, ông Xanh, ông U.
Bị hại là ông Nguyễn Văn C7 trình bày: ông đồng ý với kháng cáo của các bị hại khác, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn V trình bày: đề nghị huỷ án sơ thẩm để điều tra lại.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Trung T6 trình bày: Sau khi cấp sơ thẩm xét xử xong, anh có làm đơn kháng cáo xem xét lại nội dung liên quan đến số tiền 45.000.000 đồng anh nộp khắc phục thay bố anh là bị cáo Hoàng Văn T. Nay anh xin rút nội dung kháng cáo này và không có ý kiến gì khác. Việc rút kháng cáo của anh là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc.
* Đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đề nghị HĐXX:
- Căn cứ Điều 342, 348 Bộ luật tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của anh Hoàng Trung T6.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo đề nghị huỷ bản án sơ thẩm của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, M, sửa bản án sơ thẩm số 136/2025/HSST ngày 18/7/2025 Toà án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh. của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh.
- Căn cứ khoản 3, khoản 5 Điều 357; điểm o, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự,
- Căn cứ khoản 3, khoản 5 Điều 357; điểm o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự,
- Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Sung ngân sách nhà nước số tiền 45.000.000 đồng thu tại biên lai thu tiền số 0000407 ngày 14/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng.
- - Sung ngân sách nhà nước số tiền 3.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003420 ngày 18/7/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Xử phạt: Bị cáo Tạ Tuấn M 04 (Bốn) năm tù về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”, Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Cấm bị cáo Tạ Tuấn M đảm nhiệm chức vụ liên quan đến quản lý thôn A (Một) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 03 (ba) năm tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”. Thời gian thử thách là 5 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Bắc Ninh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Cấm Hoàng Văn T đảm nhiệm chức vụ liên quan đến quản lý thôn A (Một) năm kể từ ngày tuyên án.
Tách vấn đề bồi thường trách nhiệm dân sự trong vụ án. Sau này nếu có yêu cầu, bị hại, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
Bị cáo T không có ý kiến gì tranh luận gì.
Bị cáo M đề nghị giảm hình phạt nữa cho bị cáo.
Ông Trần Văn Đ1 là bị hại trình bày tranh luận: anh không đồng tình với đề nghị của Viện kiểm sát, chưa làm rõ vai trò của cấp xã và chính quyền địa phương, đề nghị phô tô cho bị hại các Nghị quyết của bị cáo T và bị cáo M.
Bị hại là ông Nguyễn Văn C7 trình bày tranh luận: mức án đề nghị đối với các bị cáo là quá cao.
Không ai tranh luận gì thêm.
Các bị cáo nói lời sau cùng:
Bị cáo Hoàng Văn T đề nghị cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
Bị cáo Tạ Tuấn M đề nghị cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo Hoàng Văn T, Tạ Tuấn M; bị hại ông Hoàng Văn Q, ông Trần Văn Đ, ông Trần Văn Đ1, đại diện theo ủy quyền của ông Bùi Thế N là bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn T2, ông Phạm Văn C, ông Vũ Trí C1, đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Công M1 là bà Nguyễn Thị N1, bà Hoàng Thị T3, ông Hoàng Văn T4, ông Hoàng Văn T5; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn V, ông Hoàng Trung T6 nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là hợp lệ, cần được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- [2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, một số người bị hại và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai của những người này nên việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
- [3]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những tài liệu, vật chứng của vụ án có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
- [4]. Tạ Tuấn M là Bí thư chi bộ và Hoàng Văn T là Trưởng thôn Đan Phượng, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang nhiệm kỳ 2008-2010. Trong tháng 4 năm 2009 do cần tiền để làm đường bê tông trong thôn và thực hiện các chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới; Tạ Tuấn M và Hoàng Văn T tổ chức họp chi bộ sau đó họp thôn thống nhất việc bán đất nông nghiệp công ích cho người dân để làm đất ở đối với các thửa đất dọc hai bên đường Tỉnh lộ 293 và tuyến nhánh đi vào chùa V5 thuộc thôn Đ, xã T. Từ tháng 4 đến tháng 12/2009, Hoàng Văn T và Tạ Tuấn M đã tổ chức đo đạc, chia lô và chỉ đạo bán và thu tiền trái phép diện tích 8.272,5 m2 đất nông nghiệp công ích chia thành 54 lô đất cho 41 hộ dân trong thôn và thu tổng số tiền 867.300.000 đồng sử dụng làm đường và chi cho hoạt động của thôn. Tổng số tiền các bị cáo đã gây thiệt hại là 846.900.000 đồng.
- [5]. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ” theo khoản 3 Điều 357 Bộ luật Hình sự. Do vậy, án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
- [6]. Xét kháng cáo của các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét thấy:
- [7]. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lỗi của các bị cáo là cố ý. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý phạm tội nên cần xử lý nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho loại tội này.
- [8]. Trong vụ án, bị cáo Tạ Tuấn M giữ chức Bí thư Chi bộ và bị cáo Hoàng Văn T là Trưởng thôn Đan Phượng, cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội theo nghị quyết của Chi bộ thôn nhằm mục đích làm đường bê tông và hoàn thành các chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới. Giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, câu kết hay thỏa thuận về việc chia lợi nhuận, nên được xác định là trường hợp đồng phạm mang tính giản đơn. Trong đó, bị cáo M với cương vị là Bí thư Chi bộ, là người trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức việc bán đất, do vậy giữ vai trò chính, cao hơn so với bị cáo T.
- [9]. Xét về nhân thân các bị cáo thì thấy: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- [10]. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- [11]. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Hoàng Văn T có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên; quá trình công tác được tặng nhiều Giấy khen; người bị hại đề nghị giảm nhẹ; đã nộp số tiền 45.000.000đồng để khắc phục hậu quả nên bị cáo chỉ được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 bộ luật hình sự; do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Tạ Tuấn M có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên; Quá trình công tác được tặng Huân chương giúp cách mạng Lào thời kỳ 1945-1975, được Bộ tư lệnh thông tin liên lạc tặng Bằng khen năm 1978; được tặng thưởng nhiều giấy khen; người bị hại đề nghị giảm nhẹ nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm o, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- [12]. Bản án sơ thẩm căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét xử các bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
- [13]. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Hoàng Văn T xuất trình tài liệu chứng cứ mới: Bị cáo ủng hộ quà tặng cho học sinh nghèo, có hoàn cảnh khó khăn của trường THCS T24, phường T nhân dịp khai giảng năm học mới 2025-2026 số tiền 1.000.000 đồng; ủng hộ Quỹ vì người nghèo cho UBMTTQ phường T, Bắc Ninh số tiền 500.000 đồng ngày 04/11/2025 và 500.000 đồng ngày 04/11/2025, bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, gia đình bị cáo thờ cúng liệt sỹ Hoàng Văn Đ6 là chú ruột.
- [14]. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét cho các bị cáo.
- [15]. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo như nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, các bị cáo là cán bộ cấp thôn, do thiếu kiến thức pháp luật nên đã thực hiện hành vi vi phạm về đất đai, nhưng thực hiện vì hoạt động chung của tập thể thôn. Xét tính chất, vai trò, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội cũng vì lợi ích của người dân, nhận thức về các quy định của Luật đất đai còn có phần hạn chế, có nhân thân tốt, đều là người cao tuổi. Kinh phí thu được đều để xây dựng công trình đường bê tông, nhà văn hóa vì về đích nông thôn mới, không có động cơ vụ lợi cá nhân, hành vi thực hiện trong bối cảnh lịch sử - kinh tế xã hội thời điểm những năm 2010 cách đây đã nhiều năm, hiện nay các công trình đường bê tông người dân vẫn đang được sử dụng và hưởng lợi, nên cần xác định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn. Do đó, cần áp dụng tinh thần tại Điều 5 Nghị quyết 03/2020/HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xét xử các bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với quan điểm, chủ trương xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của Bộ C8 (theo kết luận số 182-KL/TW ngày 29/7/2025).
- [16] Xét các bị cáo T, M có nhiều tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thẩm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giảm một phần hình phạt cho các bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo M với cương vị là Bí thư Chi bộ, là người trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức việc bán đất trái thẩm quyền, bị cáo giữ vai trò cao hơn nên Hội đồng xét xử không có căn cứ cho bị cáo được hưởng án treo.
- [17] Xét bị cáo Hoàng Văn T có nơi cư trú ổn định, trong quá trình điều tra thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu, tuổi cao và là người có vai trò thứ yếu trong vụ án, thực hiện theo sự lãnh đạo chỉ đạo của chi bộ, bị cáo có đủ điều kiện áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo T đủ điều kiện được hưởng án treo theo Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Toà án nhân dân tối cao nên không cần thiết phải cách ly bị cáo T khỏi xã hội áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
- [18] Đối với số tiền anh T6 và bị cáo M nộp, bị hại chưa có yêu cầu, các bị cáo T, M và anh T6 tự nguyện sung quỹ nhà nước. Do đó, cần sung ngân sách nhà nước.
- [19]. Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Trung T6: Tại phiên tòa anh T6 rút kháng cáo, việc rút kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện, do vậy Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của anh T6 theo quy định tại Điều 342, 348 Bộ luật tố tụng hình sự.
- [20]. Xét kháng cáo của các bị hại gồm ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị N1, ông Phạm Văn C, ông Hoàng Văn T23, ông Hoàng Văn T4, ông Hoàng Văn Q, ông Vũ Trí C1, bà Hoàng Thị T3, ông Trần Văn Đ1, ông Nguyễn Văn T2, chị Nguyễn Thị T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn V cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm, đề nghị xem xét trách nhiệm của Chủ tịch UBND xã T và một số cán bộ tham mưu và đề nghị huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại. Hội đồng xét xử nhận thấy:
- [21]. Đối với ông Bùi Xuân X1 – Bí thư Đảng ủy xã T: bị cáo Hoàng Văn T khai đã báo cáo và được ông Xanh đồng ý chủ trương làm đường,nhưng không có văn bản chỉ đạo hay tài liệu chứng minh khác. Ông Xanh khai không biết việc bán đất công ích, không có chỉ đạo nào liên quan. Do đó, không có căn cứ xác định ông Xanh đồng phạm với các bị cáo T, M, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về nội dung này.
- [22]. Đối với ông Nguyễn Xuân K2 – Chủ tịch UBND xã và ông Vũ Trí Đ5 – cán bộ địa chính xã T thời điểm năm 2009: ông Đ5 có tham dự một số cuộc họp thôn ban đầu bàn về việc bán đất nhưng không tham gia tổ chức thực hiện; ông K2 không chỉ đạo giao, bán đất và chỉ biết sự việc sau khi thôn nộp tiền về xã. Hành vi của hai ông thể hiện sự thiếu trách nhiệm trong quản lý đất đai, có dấu hiệu của tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo khoản 2 Điều 360 BLHS, là tội nghiêm trọng có thời hiệu truy cứu 10 năm (theo điểm b khoản 2 Điều 27 BLHS). Tuy nhiên, đến nay đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên không có căn cứ xử lý, cũng không có căn cứ xác định ông K2, ông Đ5 đồng phạm với các bị cáo về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”.
- [23]. Đối với ông Vũ Trí Đ5 – cán bộ địa chính xã: Ông Đ5 có tham gia một số cuộc họp thôn ban đầu bàn về việc bán đất nhưng thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, ông Đ5 không tham gia nên không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo T, M.
- [24]. Đối với ông S1 và ông U: các ông không có chức năng quản lý đất đai, chỉ thực hiện việc thu tiền sau khi hành vi phạm tội đã hoàn tất nên không có căn cứ xác định ông S1 và ông U phạm tội.
- [26]. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên về việc đề nghị huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại vì bỏ lọt tội phạm.
- [27] Từ phân tích nêu trên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc đề nghị huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại; căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, M, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh.
- [28]. Án phí hình sự phúc thẩm: Do các bị cáo là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự phúc thẩm theo quy định và kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326 của Uỷ ban thường vụ quốc hội. Do kháng cáo những người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không được chấp nhận nên những người này phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; anh Hoàng Trung T6 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
- [29]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Bị cáo Tạ Tuấn M nộp khắc phục hậu quả trước khi xét xử số tiền 3.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003420 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh ngày 18/7/2025, do các bị hại không yêu cầu nên bị cáo tự nguyện sung công quỹ nhà nước số tiền này, bị cáo có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt có chữ ký của các bị hại. Bị cáo là em trai ruột của Liệt sỹ Tạ Hồng N5, gia đình bị cáo là gia đình có công, hiện nay bị cáo tuổi cao sức yếu, nhiều bệnh.
Sung ngân sách nhà nước số tiền 45.000.000 đồng thu tại biên lai thu tiền số 0000407 ngày 14/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng.
Sung ngân sách nhà nước số tiền 3.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003420 ngày 18/7/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 342, 348 Bộ luật tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của anh Hoàng Trung T6.
- Căn cứ khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị N1, ông Phạm Văn C, ông Hoàng Văn T23, ông Hoàng Văn T4, ông Hoàng Văn Q, ông Vũ Trí C1, bà Hoàng Thị T3, ông Trần Văn Đ1, ông Nguyễn Văn T2, chị Nguyễn Thị T1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn V về việc huỷ Bản án sơ thẩm để điều tra lại.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 356, điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Tạ Tuấn M, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Hoàng Văn T, sửa bản án sơ thẩm số 136/2025/HSST ngày 18/7/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh.
- Căn cứ khoản 3, khoản 5 Điều 357; điểm o, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự,
- Căn cứ khoản 3, khoản 5 Điều 357; điểm o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự,
- Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Sung ngân sách nhà nước số tiền 45.000.000 đồng thu tại biên lai thu tiền số 0000407 ngày 14/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1- Bắc Ninh).
- - Sung ngân sách nhà nước số tiền 3.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003420 ngày 18/7/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
- Án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
- Các bị cáo Hoàng Văn T và Tạ Tuấn M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các bị hại gồm: ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị N1, ông Phạm Văn C, ông Hoàng Văn T23, ông Hoàng Văn T4, ông Hoàng Văn Q, ông Vũ Trí C1, bà Hoàng Thị T3, ông Trần Văn Đ1, ông Nguyễn Văn T2, chị Nguyễn Thị T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn V mỗi người phải chịu 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt: Bị cáo Tạ Tuấn M 04 (bốn) năm tù về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”, Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Cấm bị cáo Tạ Tuấn M đảm nhiệm chức vụ liên quan đến quản lý thôn A (Một) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 03 (ba) năm tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”. Thời gian thử thách là 5 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Hoàng Văn T cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Bắc Ninh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Cấm Hoàng Văn T đảm nhiệm chức vụ liên quan đến quản lý thôn A (Một) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Tách vấn đề bồi thường trách nhiệm dân sự trong vụ án. Sau này nếu có yêu cầu, bị hại, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Hà |
Bản án số 116/2025/HS-PT ngày 24/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về lạm quyền trong khi thi hành công vụ (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 116/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 24/11/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 143/2025/TLPT-HS ngày 10/10/2025 đối với các bị cáo Hoàng Văn T, Tạ Tuấn M do có kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn T, Tạ Tuấn M; bị hại ông Hoàng Văn Q, ông Trần Văn Đ, ông Trần Văn Đ1, đại diện theo ủy quyền của ông Bùi Thế N là bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn T2, ông Phạm Văn C, ông Vũ Trí C1, đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Công M1 là bà Nguyễn Thị N1, bà Hoàng Thị T3, ông Hoàng Văn T4, ông Hoàng Văn T5; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn V, ông Hoàng Trung T6 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 136/2025/HS-ST ngày 18/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh).
