Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 116/2025/HS-PT

Ngày: 10 - 10 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Đinh Trường Sơn
  • Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Tuấn và bà Hoàng Ngọc Liễu
  • Thư ký phiên toà: Bà Lương Phương Thảo - Thư ký TAND tỉnh Phú Thọ.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thảo Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 10/10/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ (Cơ sở C) xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 94/2025/TLPT-HS ngày 19 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo Phùng Sinh K do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2025/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của TAND khu vực 12 - Phú Thọ.

- Bị cáo có kháng cáo: Phùng Sinh K, sinh năm 1962 tại Hoà Bình; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: xóm C, xã B, huyện C, tỉnh Hòa Bình (nay là xã T, tỉnh Phú Thọ). Nghề nghiệp: Hưu trí (trước khi thực hiện hành vi phạm tội là Phó Giám đốc Trung tâm G). Trình độ học vấn: 10/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Có bố là Phùng Dũng L, sinh năm 1938 và mẹ là Phùng Thị N, sinh năm 1940; Có vợ là Triệu Thị T, sinh năm 1964 và 03 con, con lớn sinh năm 1984, con nhỏ sinh năm 1990.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo là Đảng viên, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 125 - QĐ/UBKTHU ngày 17/6/2025 của Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy C.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.

- Ngoài ra còn có 08 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị, không được Tòa án triệu tập tới phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong năm 2022, Trung tâm GDNN - GDTX huyện G được Nhà nước cấp ngân sách để thực hiện mở 21 lớp dạy nghề với tổng số tiền là: 1.507.533.189 đồng (Một tỷ năm trăm linh bảy triệu năm trăm ba mươi ba nghìn một trăm tám mươi chín đồng). Quá trình sử dụng nguồn kinh phí đào tạo các lớp dạy nghề, Phùng Sinh K với vai trò là Phó Giám đốc phụ trách trung tâm đã chỉ đạo kế toán là Nguyễn Thị N1, thủ quỹ là Nguyễn Thị T1 và Tổ đào tạo nghề gồm Hoàng Thị Thu H, Đinh Thúy D, Nguyễn Thị Ngọc L1 thực hiện hoàn thiện chứng từ thanh quyết toán theo hướng kê tăng thời gian học nghề nhằm tăng phần chi tiền cho giáo viên dạy nghề và học viên cao hơn so với thực tế chi trả đối với 07 lớp dạy nghề gồm: Lớp kỹ thuật chăn nuôi gà xã B, lớp kỹ thuật chăn nuôi gà xã H, lớp kỹ thuật chăn nuôi gà xã T (từ nguồn Ngân sách huyện); Lớp kỹ thuật nấu ăn xã B, lớp hàn điện, lớp may công nghiệp xã H (từ nguồn chương trình mục tiêu quốc gia vùng đồng bào dân tộc thiểu số); Lớp may công nghiệp xã H (từ nguồn chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững). Sau mỗi lần hợp thức hoá chứng từ, Phùng Sinh K đều yêu cầu bộ phận chuyên môn tổng hợp, báo cáo tổng số tiền đã rút ra được và chỉ đạo Nguyễn Thị T1 đưa vào quỹ để chi tiêu chung.

Đối với việc chi trả tiền cho học viên học nghề của 07 lớp: Tổ đào tạo nghề (gồm: Hoàng Thị Thu H - Tổ trưởng; Đinh Thúy D và Nguyễn Thị Ngọc L1) lập bảng theo dõi thời gian học tập thực tế của học viên và chuyển lại cho kế toán Nguyễn Thị N1 lập bảng kê chi tiền. Sau đó, Nguyễn Thị T1 (thủ quỹ) phối hợp với tổ đào tạo nghề thực hiện chi trả cho từng học viên khi lớp dạy nghề kết thúc, yêu cầu học viên ký nhận vào 01 tờ danh sách phát tiền đã ghi rõ số tiền thực nhận và ký thêm vào tờ danh sách phát tiền để trống nội dung. Tờ danh sách ký khống này được Tổ đào tạo nghề tập hợp, điền hoàn thiện, hợp thức hoá chứng từ theo dự toán đã lập ban đầu, kê tăng số ngày thực học nhằm kê tăng số tiền chi cho giáo viên và học viên.

Đối với việc chi trả tiền cho giáo viên dạy nghề của 07 lớp: Khi trung tâm có kế hoạch mở các lớp đào tạo nghề, Hoàng Thị Thu H (Tổ trưởng Tổ đào tạo nghề) được phân công liên hệ với các giáo viên. Trước khi chính thức ký hợp đồng, các giáo viên sẽ có buổi làm việc trực tiếp với lãnh đạo trung tâm là Phùng Sinh K để thống nhất về số buổi học thực tế và thù lao giảng dạy. Các giáo viên đều nắm được và thống nhất đồng ý. Khi giảng dạy xong, kế toán sẽ hoàn thiện thủ tục để thanh toán tiền cho giáo viên bằng hình thức chuyển khoản, sau đó giáo viên căn cứ thỏa thuận về thù lao đã được trao đổi, thống nhất ban đầu để chuyển lại số tiền chênh lệch tăng lên cho Hoàng Thị Thu H bằng tiền mặt. Hoàng Thị Thu H tổng hợp lại và đối chiếu với kế toán Nguyễn Thị N1, sau đó chuyển lại cho thủ quỹ Nguyễn Thị T1 để chi tiêu theo sự chỉ đạo của Phùng Sinh K.

2

Trong quá trình hoàn thiện chứng từ để thanh quyết toán cho giáo viên, Hoàng Thị Thu H đã thống nhất, trao đổi với Bùi Thị L2 chủ động thỏa thuận với Bùi Đình T2, Đặng Đình B nhằm sử dụng bằng cấp và chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm của T2 và B cho lớp kỹ thuật chăn nuôi gà do Trung tâm GDNN - GDTX huyện G mở tại xã B (do không thể làm chứng từ thanh quyết toán cho Bùi Thị L2 tham gia giảng dạy cả 03 lớp gồm lớp kỹ thuật chăn nuôi gà xã B, Lớp kỹ thuật chăn nuôi gà xã H, lớp kỹ thuật chăn nuôi gà xã T được). Thực tế 02 người này không tham gia giảng dạy mà do Bùi Thị L2 trực tiếp giảng dạy. Khi kết thúc khóa học, Trung tâm chuyển tiền thanh toán giảng dạy vào tài khoản của T2 là 13.300.000 đồng và B là 10.850.000 đồng. Sau đó, T2 và B chuyển lại cho Bùi Thị L2 lần lượt là 11.550.000 đồng và 9.100.000 đồng như đã trao đổi từ trước. Tổng số tiền mà Bùi Thị L2 chuyển trả lại cho Hoàng Thị Thu H sau khi kê tăng số ngày giảng dạy so với thực tế là 36.450.000 đồng, số tiền mà Bùi Thị L2 được hưởng thực tế khi trực tiếp giảng dạy 03 lớp học trên là 28.500.000 đồng.

Ngày 14/3/2025, Sở Tài chính tỉnh H có Công văn số 1080/STC-GĐTP kết luận: Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện G, tỉnh Hòa Bình có vi phạm quy định của pháp luật về quản lý, chi tiêu ngân sách Nhà nước; Vi phạm quy định tại khoản 1, Điều 13 Luật Kế toán ngày 20 tháng 11 năm 2015; Hành vi nêu trên có gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước.

Ngày 16/4/2025, Sở T có văn bản số: 1973/STC-GĐTP về việc xác định lại tổng số tiền gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước là 153.830.000 đồng (Một trăm năm ba triệu tám trăm ba mươi nghìn đồng).

* Số tiền 153.830.000 đồng được Phùng Sinh K chỉ đạo nhập quỹ trung tâm để phục vụ chi tiêu cho các hoạt động khác không đúng quy định như tham quan, mua sắm, chúc Tết và thưởng Tết cuối năm 2022.

Tại Bản án số: 15/2025/HS-ST ngày 14/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ đã quyết định: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 356; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phùng Sinh K phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Xử phạt bị cáo: Phùng Sinh K 04 (B1) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo khác, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 22/8/2025, bị cáo Phùng Sinh K kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện VKSND tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:

3

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng khác đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về nội dung kháng cáo: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phùng Sinh K. Đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Phùng Sinh K đã kháng cáo trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Căn cứ lời khai của các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở khẳng định:

Trong năm 2022 Phùng Sinh K với chức vụ là Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm GDNN - GDTX huyện G đã chỉ đạo cho Nguyễn Thị N1 (kế toán), Nguyễn Thị T1 (thủ quỹ) và Tổ đào tạo nghề gồm Hoàng Thị Thu H, Đinh Thúy D, Nguyễn Thị Ngọc L1 thực hiện hoàn thiện chứng từ thanh quyết toán theo hướng kê tăng thời gian học nghề đối với 07 lớp dạy nghề, tăng phần chi tiền cho giáo viên dạy nghề và học viên cao hơn so với thực tế chi trả gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước với tổng số tiền là 153.830.000 đồng (Một trăm năm mươi ba triệu tám trăm ba mươi nghìn đồng).

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phùng Sinh K về tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 356 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo:

Hội đồng xét xử xét thấy, trong vụ án này các bị cáo đồng phạm với tính chất giản đơn, không có sự bàn bạc phân công cụ thể từ trước mà chỉ thực hiện hành vi phạm tội dưới sự chỉ đạo của bị cáo K. Đánh giá vị trí, mức độ nghiêm trọng của từng bị cáo xét thấy bị cáo Phùng Sinh K là người đứng đầu, có vai trò chính trong vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo K 04 (bốn) năm tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo đã cung cấp thêm các tài liệu chứng cứ mới thể hiện trong quá trình công tác bị cáo đã được tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp xây dựng tổ chức công đoàn, UBND xã T đã xác nhận gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo có con đẻ Phùng Thị Kim là đối tượng khuyết tật đặc biệt nặng, bản thân bị cáo cũng như vợ thường xuyên đau ốm. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, do đó Hội đồng xét xử có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về kháng cáo xin được hưởng án treo: Bị cáo Phùng Sinh K là người đứng đầu trong đơn vị đồng thời là chủ tài khoản mặc dù bị cáo biết những việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý chỉ đạo kế toán, thủ quỹ cũng như các viên chức khác thực hiện việc tăng thời gian học nghề đối với 07 lớp dạy nghề, tăng phần chi tiền cho giáo viên dạy nghề và học viên cao hơn so với thực tế chi trả gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước. Như vậy bị cáo đã phạm tội nhiều lần. Theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP và khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: Không cho hưởng án treo đối với: Người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng; Người phạm tội nhiều lần. Cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Phùng Sinh K là có căn cứ.

[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phùng Sinh K về việc xin giảm nhẹ hình phạt; Không chấp nhận nội dung kháng cáo xin hưởng án treo. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2025/HS-ST ngày 14/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ về hình phạt đối với bị cáo Phùng Sinh K cụ thể:
  2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 356; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Phùng Sinh K phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Xử phạt bị cáo Phùng Sinh K 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bị bắt để thi hành

  3. Về án phí: Bị cáo Phùng Sinh K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2025/HS-ST ngày 14/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (10/10/2025).

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - TAND Khu vực 12 - Phú Thọ;
  • - Cơ quan THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - UBKT Đảng ủy xã Cao Phong;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đinh Trường Sơn

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2025/HS-PT ngày 10/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

  • Số bản án: 116/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Phùng Sinh Kính phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” (điểm b khoản 2 Điều 356)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger