Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRỰC NINH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2025/HNGĐ-ST.

Ngày 30 - 6 - 2025.

V/v: “ Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Xuân Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Mạnh Trường

Ông Nguyễn Văn Chuyết.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy – Thư ký TAND huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Trực Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng N, sinh năm 1999.

Bị đơn: Anh Trần Đình T, sinh năm 1996.

Cùng trú tại: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa: Chị N có đơn xin vắng mặt, anh tài vắng mặt lần 2 không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Lê Thị Hồng N trình bày:

Chị kết hôn với anh Trần Đình T ngày 10 tháng 9 năm 2019 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 9 năm 2024 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 9 năm 2024 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh xin ly hôn anh T để yên tâm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị N và anh tài có 02 con chung tên Trần Lệ Nhật A sinh 17/7/2020 và Trần Lệ Quỳnh C sinh ngày 03/07/2022. Chị N có nguyện vọng nuôi cả hai con chung và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung 4.000.000/1 tháng.

Hiện anh T làm nghề lái xe tắc xi và lái xe tải cho gia đình nên nguồn thu nhập của anh T khoảng 15-20 triệu đồng /01 tháng.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị N không đề nghị Tòa án giải quyết.

Quá trình Toà án thụ lý giải quyết đã triệu tập anh T nhiều lần nhưng không chấp hành. Ngày 15/5/2025 Toà án đã về UBND xã T xác minh, anh tài vẫn làm ăn ở địa phương, UBND xã đã giao giấy triệu tập nhưng anh tài vẫn cố tình không chấp hành. Anh tài không có ý kiến phản hồi. Như vậy là cố tình lẩn trách tham gia tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa của Thẩm phán, HĐXX đúng quy định của BLTTDS. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70; 71 BLTTDS.

Bị đơn đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có mặt để giải quyết, vắng mặt tại phiên tòa, vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại các điều 70; 72 BLTTDS.

Tòa án hoãn phiên tòa do bị đơn vắng mặt lần thứ nhất, mở lại phiên tòa lần thứ hai xét xử vụ án khi nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 227; 233; 238 BLTTDS.

Về nội dung: Xét thấy hôn nhân giữa chị T1 và anh B đã thực sự tan vỡ, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51; 56; Điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Thị Hồng N.

Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị N, giao chị N được quyền nuôi dưỡng 02 con chung là Trần Lệ Nhật A sinh 17/7/2020 và Trần Lệ Quỳnh C sinh ngày 03/07/2022. Buộc anh T phải cấp dưỡng nuôi cả 2 con chung mỗi tháng 4.000.000 đồng tính từ tháng 7 năm 2025 đến khi hai cháu trưởng thành tự lập được (mỗi cháu 2.000.000 đồng).

Về tài sản anh chị không yêu cầu không đề cập giải quyết.

Về án phí: Chị N, anh tài phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Hội đồng xét xử nhận định, sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án:

[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án cho nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định của pháp luật.

Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án khi nguyên đơn có đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 2 là đúng quy định tại Điều 238 BLTTDS.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Hồng N kết hôn với anh Trần Đình T ngày 10 tháng 9 năm 2019 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 9 năm 2024 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy: Quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh T đã thực sự tan vỡ, vợ chồng sống ly thân đã lâu. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thể đoàn tụ được nữa. Yêu cầu xin ly hôn của chị N là phù hợp với quy định của pháp luật được HĐXX chấp nhận.

[3] Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị N, giao chị N được quyền nuôi dưỡng 02 con chung là Trần Lệ Nhật A sinh 17/7/2020 và Trần Lệ Quỳnh C sinh ngày 03/07/2022. Buộc anh T phải cấp dưỡng nuôi cả 2 con chung mỗi tháng 4.000.000 đồng tính từ tháng 7 năm 2025 đến khi hai cháu trưởng thành tự lập được (mỗi cháu 2.000.000 đồng).

[4] Về tài sản chung, công nợ: Các đương sự không đề nghị giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[5] Về án phí ly hôn: chị N phải nộp theo quy định của pháp luật.

[6] Án phí cấp dưỡng nuôi con anh T phải nộp theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51; 56; Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng về án phí và lệ phí Toà án:

  1. Xử ly hôn giữa chị Lê Thị Hồng N kết hôn với anh Trần Đình T.
  2. Về con chung: Giao chị N được quyền nuôi dưỡng 02 con chung là Trần Lệ Nhật A sinh 17/7/2020 và Trần Lệ Quỳnh C sinh ngày 03/07/2022.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh T phải cấp dưỡng nuôi cả 2 con chung mỗi tháng 4.000.000 đồng tính từ tháng 7 năm 2025 đến khi hai cháu trưởng thành tự lập được (mỗi cháu 2.000.000 đồng).

Trần Đình T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

  1. Án phí: Chị Lê Thị Hồng N phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự. Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh K đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004228 ngày 05 tháng 3 năm 2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định được trừ vào số tiền án phí chị N phải nộp. Chị N đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Hồng N và anh Trần Đình T.có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của BLTTDS.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Trực Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Trực Ninh;
  • - UBND xã/phường/thị trấn;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Xuân Mạnh

HỘI THẨM NHÂN DÂN

........................................

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Xuân Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn

  • Số bản án: 116/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger