TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 116/2025/HNGĐ-ST Ngày 29 - 5 - 2025 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Thái Hoàng Đắc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sol
Ông Nguyễn Quốc Trung
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 164/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trịnh Văn D, sinh năm: 1973; Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Du Thị M, sinh năm: 1984; Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ông Trịnh Văn D trình bày tại đơn khởi kiện ngày 04/4/2025 và tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 23/4/2025 như sau:
Về hôn nhân:
Năm 2002 ông D và bà Du Thị M chung sống với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn theo pháp luật. Vợ chồng chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp nhau. Ông và bà M đã ly thân, không còn chung sống với nhau. Cả hai bên đã có gia đình riêng. Nay ông yêu cầu ly hôn với bà M.
Về con chung:
Ông và bà M có 02 người con chung tên Trịnh Khánh V, sinh năm 2003 (đã trưởng thành) và Trịnh Gia H, sinh ngày 24/12/2007, đang sống với ông. Khi ly hôn, ông yêu cầu cháu H theo nguyện vọng của con, không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung:
Không có.
Ông D yêu cầu xét xử vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn bà Du Thị M đúng theo quy định pháp luật nhưng bị đơn không có văn bản thể hiện ý kiến và cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Du Thị M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên toà xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn ông Trịnh Văn D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về hôn nhân: Năm 2002, ông Trịnh Văn D và bà Du Thị M tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân giữa anh chị không có giá trị pháp lý nên không được pháp luật công nhận ông bà là vợ chồng.
[3] Về nuôi con chung: Ông D và bà M có 02 người con chung tên Trịnh Khánh V, sinh năm 2003 (đã trưởng thành) và Trịnh Gia H, sinh ngày 24/12/2007, đang sống với ông D. Khi ly hôn, ông D yêu cầu cháu H theo nguyện vọng của con. Toà án đã ghi nhận ý kiến của cháu H có nguyện vọng sống với ông D. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu H cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng. Bà M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con, theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và Gia đình thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, ông D không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về chia tài sản và nợ chung: Ông D xác định không có nên không xem xét.
[6] Về án phí: Ông D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 143, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53, các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q;
Tuyên xử:
- 1. Về hôn nhân: Không công nhận ông Trịnh Văn D và bà Du Thị M là vợ chồng.
- 2. Về nuôi con chung: Giao con chung là Trịnh Gia H, sinh ngày 24/12/2007 cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng. Riêng cháu Trịnh Khánh V, sinh năm 2003 (đã trưởng thành). Không đặt ra trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung. Bà M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- 3. Về án phí: Ông Trịnh Văn D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 04/4/2025 ông D đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0019361 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.
Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy đinh tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Hoàng Đắc |
Bản án số 116/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 116/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Năm 2002 ông D và bà M chung sống với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn theo pháp luật. Nay ông D yêu cầu ly hôn với bà M.
