Hệ thống pháp luật

Bản án số: 116/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26-12-2025

Về việc “Ly hôn, quyền trực tiếp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Nữ Ngọc Diệp

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Huy Đạt

Ông Nguyễn Trí Vỵ

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thanh Thảo – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc An - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 10/10/2025 về việc “Ly hôn, quyền trực tiếp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2025, quyết định hoãn phiên toà số 37/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Văn P, sinh ngày: 05/10/1987, nơi thường trú: Thôn T, xã C, tỉnh Hà Tĩnh, số CCCD: [...];

- Bị đơn: Chị Hồ Thị L, sinh ngày: 20/11/1991, nơi thường trú: Thôn T, xã C, tỉnh Hà Tĩnh; số CCCD: [...], hiện nay đang lao động tại Singapore;

- Người tham gia tố tụng khác: Chị Hồ Thị H, sinh năm: 1989, địa chỉ: Thôn P, xã C, tỉnh Hà Tĩnh.

(Các đương sự đều vắng mặt tại phiên toà, có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung Đơn khởi kiện, Bản tự khai của nguyên đơn, ghi nhận ý kiến của bị đơn, cùng các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, vụ án có nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian tự do tìm hiểu, yêu thương, ngày 04/8/2015, chị Hồ Thị L và anh Trần Văn P đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện N (nay là Ủy ban nhân dân xã C), tỉnh Hà Tĩnh, theo Sổ đăng ký số 50/2015, quyển số 01/2014. Gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc tại thôn T, xã C, tỉnh Hà Tĩnh và có 02 con chung. Năm 2016, anh P đi lao động tại Đài Loan. Năm 2022, chị L và cháu Trần Thị Trà M về sống cùng chị gái là Hồ Thị H một thời gian thì chị L đi lao động tại Đài Loan và sau đó sang Singapore, còn cháu Trần Việt H1 sống cùng anh P. Do vợ chồng không sống chung, khoảng cách về địa lý nên tình cảm dần phai nhạt, phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không tin tưởng, không có tiếng nói chung để xây dựng gia đình hạnh phúc. Đến nay, tình trạng hôn nhân không thể dung hòa, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, anh Trần Văn P khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với chị Hồ Thị L.

Về con chung: Anh Trần Văn P và chị Hồ Thị L có 02 (hai) con chung là Trần Thị Trà M, sinh ngày: 25/5/2016 và Trần Việt H1, sinh ngày: 17/5/2021. Vợ chồng tự thoả thuận về quyền nuôi con trực tiếp, cụ thể: Giao con chung Trần Thị Trà M cho chị Hồ Thị L, giao con chung Trần Việt H1 cho anh Trần Văn P trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi. Trong thời gian chị L đang lao động ở nước ngoài, tạm giao con Trần Thị Trà M cho chị gái là Hồ Thị H, sinh năm: 1989, nơi thường trú: Thôn P, xã C, tỉnh Hà Tĩnh chăm sóc, nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh P, chị L tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bằng hình thức gọi điện thoại ghi hình có âm thanh kết nối từ facebook “Vì sao trong dem” đến facebook “Phan Anh T”, bị đơn – chị Hồ Thị L trình bày: Thống nhất với về thời gian, địa điểm kết hôn, thời điểm, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, tình trạng vợ chồng hiện nay như nội dung đơn khởi kiện của anh Trần Văn P. Chị L khẳng định tình cảm vợ chồng không còn, đồng ý với yêu cầu ly hôn của anh P. Về con chung: Chị L trình bày vợ chồng đã thống nhất thoả thuận chị L trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Thị Trà M, còn anh P trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Việt H1 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Trong thời gian chị L đang lao động ở nước ngoài, chị tạm giao cháu Trần Thị Trà M cho chị gái là Hồ Thị H, sinh năm: 1989, nơi thường trú: Thôn P, xã C, tỉnh Hà Tĩnh chăm sóc, nuôi dưỡng. Vợ chồng không yêu cầu Toà án giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung. Chị L lao động tự do nên không cung cấp được địa chỉ tại S, đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt và ủy quyền giao nhận tài liệu chứng cứ cho chị gái là Hồ Thị H.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân, ghi nhận nội dung sự việc do người tham gia tố tụng khác – chị Hồ Thị H cung cấp: Chị Hồ Thị L là em gái của chị, hiện đang lao động tại S, chị không biết địa chỉ cụ thể của chị L nên không cung cấp được cho Toà án. Tuy nhiên, chị L vẫn thường xuyên liên lạc về nhà qua điện thoại và chị đã thông báo cho chị L thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng của Tòa án. Về mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L, anh P chị không biết nguyên nhân cụ thể, tuy nhiên từ năm 2022 chị L đã đưa con gái là Trần Thị Trà M về sinh sống cùng chị. Chị H đồng ý nhận ủy quyền giao nhận tài liệu chứng cứ, cam đoan thông tin đầy đủ cho chị L và nhận trách nhiệm nuôi dưỡng cháu Trà M trong thời gian chị L đi lao động ở nước ngoài.

Tại công văn số 205/CACĐ, ngày 04/12/2025 về việc cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ Công an xã C, tỉnh Hà Tĩnh có nội dung: Chị Hồ Thị L hiện đăng ký thường trú tại thôn T, xã C, tỉnh Hà Tĩnh nhưng vắng mặt vì đang đi lao động ở nước ngoài (Singapore).

Tại công văn số 1031/UBND-VP, ngày 21/11/2015 của Ủy ban nhân dân xã C thể hiện: Chị Hồ Thị L và anh Trần Văn P đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện N (nay là UBND xã C), tỉnh Hà Tĩnh. Về mâu thuẫn vợ chồng và nguyên nhân chính quyền không nắm bắt được thông tin cũng như chưa hoà giải tranh chấp hôn nhân gia đình lần nào. Các con chung được đi học đầy đủ, đúng độ tuổi, không có thông tin về hành ngược đãi, bạo hành con chung của chị L và anh P. Về yêu cầu của nguyên đơn, Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Hà Tĩnh đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ việc, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 3 Điều 2, khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228, Điều 238, điểm b khoản 2 Điều 464, khoản 1 Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Văn P. Tuyên xử anh Trần Văn P và chị Hồ Thị L ly hôn. Đề nghị giao con chung Trần Thị Trà M cho chị Hồ Thị L, giao con chung Trần Việt H1 cho anh Trần Văn P trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi. Trong thời gian chị L đang lao động ở nước ngoài, tạm giao con Trần Thị Trà M cho chị gái chị L là chị Hồ Thị H, sinh năm: 1989, nơi thường trú: Thôn P, xã C, tỉnh Hà Tĩnh chăm sóc, nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên miễn xét. Về án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Thủ tục tố tụng:

[1.1] Tại Công văn số 1519/QLXC-Đ1 ngày 04/11/2025 của Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh H cung cấp thông tin: Bị đơn – chị Hồ Thị L xuất cảnh lần gần đây nhất vào ngày 03/3/2024 qua Sân bay Quốc tế N, chưa có thông tin nhập cảnh trên hệ thống. Xác nhận thông tin về cư trú của Công an xã C, tỉnh Hà Tĩnh thể hiện chị Hồ Thị L đăng ký thường trú tại thôn T, xã C, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định tại khoản 14 Điều 3; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh.

[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình để xác minh về địa chỉ, quan điểm của bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài. Chị Hồ Thị L không đến Toà án làm việc cũng như không gửi văn bản, tài liệu nhưng thông qua người thân thích trình bày ý kiến về nội dung yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, Toà án tiến hành thu thập chứng cứ, ghi nhận ý kiến của bị đơn, thông báo thời gian tố tụng thông qua người thân thích hiện đang sinh sống tại Việt Nam đồng thời thông báo 03 (ba) số liên tiếp trên kênh V của Đ tiếng nói Việt Nam để bị đơn thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

[1.3] Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt (nguyên đơn có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn trình bày ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt). Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo thủ tục chung.

[2] Nội dung:

[2.1] Quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn P và chị Hồ Thị L tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 04/8/2025 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện N (nay là Ủy ban nhân dân xã C), tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định về điều kiện kết hôn tại các Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì hôn nhân của anh Trần Văn P và chị Hồ Thị L là hợp pháp.

[2.2] Xác định tình trạng hôn nhân: Anh Trần Văn P và chị Hồ Thị L phát sinh mâu thuẫn trong quá trình sống chung, trở nên trầm trọng dẫn đến ly thân từ năm 2022 khi chị L cùng con gái bỏ về sinh sống cùng chị gái sau đó đi lao động ở nước ngoài. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng sống xa nhau không có thời gian hàn gắn mâu thuẫn, tình cảm phai nhạt dần, không còn sự quan tâm, chăm sóc. Anh P, chị L không mong muốn đoàn tụ và yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn.

[2.3] Pháp luật về Hôn nhân và gia đình Việt Nam có chính sách và biện pháp bảo hộ hôn nhân và gia đình, tạo điều kiện để nam, nữ xác lập hôn nhân tự nguyện, vợ chồng bình đẳng; xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ... nhưng hôn nhân của anh Trần Văn P và chị Hồ Thị L không còn hướng tới xây dựng gia đình hạnh phúc.

[2.4] Tại điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và Gia đình quy định: “ Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được là thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Không có tình nghĩa vợ chồng, ví dụ: vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ, chồng sống ly thân, bỏ mặc vợ hoặc chồng”.

[2.5] Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Ly hôn theo yêu cầu của một bên: Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” (khoản 1 Điều 56).

[2.6] Xét thấy, hiện nay, tình cảm vợ chồng giữa anh Trần Văn P và chị Hồ Thị L không còn. Vợ chồng sống ly thân, không yêu thương, quan tâm đến nhau, mâu thuẫn trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ. Do đó, chấp nhận yêu cầu của anh Trần Văn P như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở. Căn cứ quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, xử cho anh Trần Văn P và chị Hồ Thị L ly hôn là đúng quy định của pháp luật.

[2.7] Quan hệ con chung: Anh Trần Văn P và chị Hồ Thị L có 02 (hai) con chung là Trần Thị Trà M, sinh ngày: 25/5/2016 và Trần Việt H1, sinh ngày: 17/5/2021. Quá trình giải quyết vụ án, anh P, chị L tự thoả thuận giao quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, cụ thể: Giao con chung Trần Thị Trà M cho chị Hồ Thị L, giao con chung Trần Việt H1 cho anh Trần Văn P trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi. Thấy rằng, các đương sự đã tự thoả thuận quyền, nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Cháu H1 sống cùng anh P, cháu Trà M sống cùng chị L và chị H từ nhỏ; các con phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần, được học tập, vui chơi đầy đủ; cháu Trà M có văn bản thể hiện nguyện vọng được ở cùng với chị L. Do đó, để đảm bảo sự ổn định về môi trường sống, học tập của các con, ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự, giao con chung Trần Thị Trà M cho chị Hồ Thị L, giao con chung Trần Việt H1 cho anh Trần Văn P trực tiếp thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp, đúng pháp luật. Trong thời gian chị L đang lao động ở nước ngoài, tạm giao con Trần Thị Trà M cho chị gái là Hồ Thị H, sinh năm: 1989, nơi thường trú: Thôn P, xã C, tỉnh Hà Tĩnh chăm sóc, nuôi dưỡng. Trừ trường hợp phát sinh sự kiện pháp lý mới.

[2.8] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên miễn xét.

[2.9] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên miễn xét.

Trong trường hợp phát sinh tranh chấp đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

[3] Về án phí: Anh Trần Văn P phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 2, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, các Điều 235, 238, 266, điểm b khoản 2 Điều 464, điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Áp dụng Điều 39 Bộ luật Dân sự; các Điều 19, 51, 56, 57, 81, 82, 83,123 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Văn P, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn P, sinh ngày: 05/10/1987, nơi thường trú: Thôn T, xã C, tỉnh Hà Tĩnh, số CCCD: [...] và chị Hồ Thị L, sinh ngày: 20/11/1991, nơi thường trú: Thôn T, xã C, tỉnh Hà Tĩnh; số CCCD: [...], hiện nay đang lao động tại Singapore: Ly hôn.
  2. Về con chung: Ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự, giao con chung Trần Thị Trà M, sinh ngày: 25/5/2016 cho chị Hồ Thị L, giao con chung Trần Việt H1, sinh ngày: 17/5/2021 cho anh Trần Văn P trực tiếp thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi. Trong thời gian chị L đang lao động ở nước ngoài, tạm giao con Trần Thị Trà M cho chị gái là Hồ Thị H, sinh năm: 1989, nơi thường trú: Thôn P, xã C, tỉnh Hà Tĩnh chăm sóc, nuôi dưỡng. Trừ trường hợp phát sinh sự kiện pháp lý mới.

    Anh Trần Văn P và chị Hồ Thị L có quyền đi lại thăm non con chung không ai được cản trở.

  3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên miễn xét.
  4. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên miễn xét.
  5. Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 2 Điều 7, khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 và mục A danh mục án phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc anh Trần Văn P phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh P đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai số 0000191 ngày 09/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 273, khoản 1, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự: Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được Bản án hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Huy Đạt Lê Nữ Ngọc Diệp
Nguyễn Trí Vỵ
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2025/HNGĐ-ST ngày 26/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH về ly hôn, quyền trực tiếp nuôi con

  • Số bản án: 116/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, quyền trực tiếp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Trần Văn P yêu cầu ly hôn chị Hồ Thị L và giải quyết vấn đề con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger