Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26 - 6 - 2025

V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Tùng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể và ông Bùi Văn Hồng

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hoa - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 36/2025/TLST- HNGĐ, ngày 21 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2025/QĐXX-ST, ngày 02 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 99/2025/TB-TA, ngày 13 tháng 6 năm 2025 giữa:

- Họ và tên nguyên đơn: Nguyễn Thị V, Sinh ngày: 10/9/1995. Địa chỉ: xóm T, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)

- Họ và tên bị đơn: Bùi Trung K, Sinh ngày: 16/02/1982. HKTT trước khi xuất cảnh: TDP 4, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện tại đang ở tại Cộng hòa liên bang Đ. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai có tại hồ sơ vụ án, chị Nguyễn Thị V trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V và anh Bùi Trung K tự do tìm hiểu và kết hôn với nhau ngày 18/3/2013 tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng bố mẹ chồng tại phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Sau một thời gian chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn dẫn đến thường xuyên cãi vã nhau sau đó anh K đi lao động tại Cộng hòa liên bang Đ đến nay chưa về nước. Đến tháng 8 năm 2023 thì chị V cũng đi lao động tại Nhật Bản và hiện nay về nước để làm thủ tục ly hôn với anh K. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị V làm đơn xin được ly hôn với anh K.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Bùi Thanh L, sinh ngày 06/2/2014; cháu Bùi Chí V1, sinh ngày 20/4/2016; chị V có nguyện vọng nuôi giao 2 con chung cho anh K chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị V cấp dưỡng nuôi con mỗi con 2.000.000đ/tháng/con. Cho đến khi con trưởng thành

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do điều kiện công việc, chị V có nguyện vọng xin vắng mặt tại phiên tòa.

Đối với bị đơn anh Bùi Trung K, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã gửi thông báo thụ lý và được người thân của anh K nhận thay. Đồng thời, Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng và đăng thông tin trên phương tiện thông tin theo quy định để anh Bùi Trung K biết việc chị Nguyễn Thị V có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng đến nay anh K vẫn không có văn bản trình bày quan điểm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, khoản 4 Điều 147 BLTTDS năm 2015; khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội khóa XIV, cụ thể:

- Về tình cảm: chị Nguyễn Thị V được ly hôn anh Bùi Trung K.

- Về con chung: Giao hai con chung là cháu Bùi Thanh L, sinh ngày 06/2/2014; cháu Bùi Chí V1, sinh ngày 20/4/2016 cho anh Bùi Trung K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị V về việc đóng tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ/con cho đến khi các con trưởng thành. Chị Nguyễn Thị V được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được phép cản trở.

- Về án phí: chị Nguyễn Thị V phải chịu án phí giải quyết vụ án ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị V trình bày hiện nay anh Bùi Trung K đang lao động tại Cộng hòa liên bang Đức, không có địa chỉ cụ thể. Vì vậy, Tòa án đã đề nghị Cục Q cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của anh Bùi Trung K và tại Công văn số 270/QLXNC – Đ1, ngày 17/3/2025 của Phòng QLXNC Công an tỉnh H cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của anh Bùi Trung K, sinh ngày 16/02/1982 đã xuất cảnh ngày 19/3/2023 qua sân bay Quốc tế N và hiện chưa có thông tin nhập cảnh trên hệ thống. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự. Ngoài ra, để có căn cứ giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin về anh Bùi Trung K thông qua người thân của anh và thực hiện niêm yết các văn bản tố tụng và đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định.

Tại phiên tòa, anh Bùi Trung K vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao để giải quyết vắng mặt anh K theo quy định pháp luật.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V và anh Bùi Trung K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 1/3/2013 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng bố mẹ chồng tại phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Sau một thời gian chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn dẫn đến thường xuyên cãi vã nhau sau đó anh K đi lao động tại Cộng hòa liên bang Đ đến nay chưa về nước. Đến tháng 8 năm 2023 thì chị V cũng đi lao động tại Nhật Bản. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị V làm đơn xin được ly hôn với anh K. Anh K hiện đang lao động ở nước ngoài, Tòa án đã thông báo về việc chị V làm đơn xin ly hôn với anh K trên VOV nhưng Tòa án không nhận được thông tin phản hồi của anh K. Thông qua buổi là việc với người thân là mẹ đẻ anh K cho biết anh K về thống nhất với yêu cầu ly hôn của V. Xét thấy, mục đích xây gia đình hạnh phúc, vợ chồng yêu thương, quan tâm chăm sóc lẫn nhau nay không đạt được vì vậy, việc chị V làm đơn ly hôn với anh K là có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân có 02 con chung là cháu Bùi Thanh L, sinh ngày 06/2/2014 và cháu Bùi Chí V1, sinh ngày 20/4/2016. Xét thấy việc nuôi con là trách nhiệm và nghĩa vụ của cha mẹ, chị V có nguyện vọng giao con chung cho anh K chăm sóc nuôi dưỡng. Xét thấy, các con hiện nay đang ở với ông bà nội, ông bà có đơn trình bày tự nguyện thay anh K chăm sóc các cháu cho đến khi anh K về nước. Anh K có nguyện vọng được nuôi con và phù hợp với nguyện vọng của các con muốn được ở với bố nên giao con chung cho anh K chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.

Về tiền cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị V về việc đóng tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ/con.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét

[2.4]. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[2.5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 116, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, khoản 4 Điều 147 BLTTDS năm 2015; khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội khóa XIV. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị V. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Nguyễn Thị V được ly hôn anh Bùi Trung K.

2. Về con chung: Giao hai con chung là cháu Bùi Thanh L, sinh ngày 06/2/2014 và cháu Bùi Chí V1, sinh ngày 20/4/2016 cho anh Bùi Trung K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị V được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được phép cản trở.

Về tiền cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị V về việc đóng tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ/con.

3. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số [...] ngày 21/02/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh và phải nộp 150.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa phúc thẩm - TAND Tối cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã Tùng Lộc, tỉnh Hà Tĩnh
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Ngọc Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 116/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger