|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 116/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25 - 3 - 2025. “V/v: Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Luân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trọng
Bà Nguyễn Thị Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa:
bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 489/2024/TLST-HNGĐ ngày 06/11/2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/3/2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1989
Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội.
Nơi ở hiện tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện C, Thành phố Hà Nội
* Bị đơn: Anh Nguyễn Tự T, sinh năm 1983
Nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn N, xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội.
Có mặt: Chị C;
Vắng mặt: Anh T, có ý kiến xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/9/2024, ý kiến tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – Chị Nguyễn Thị C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị với anh Nguyễn Tự T có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 02/4/2007 tại UBND xã N, huyện C, tỉnh Hà Tây (nay là Thành phố Hà Nội). Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống với nhau tại nhà anh T ở thôn N, xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống thường xuyên xảy ra xích mích cãi cọ. Đỉnh điểm mâu thuẫn là năm 2022. Anh T thường xuyên chửi bới, xúc phạm chị C. Sau đó vợ chồng chị đã ngủ riêng, không quan tâm đến nhau. Chị C đã nhờ gia đình hai bên đến hòa giải nhưng không cải thiện được tình trạng vợ chồng. Đến khoảng tháng 6 năm 2024 khi xảy ra ngập lụt. Do chị C đi làm ở khu công nghiệp P không về được nên chị đã nói với chồng là cho chị ở trọ ở gần công ty để thuận tiện việc đi làm thì anh Trịnh V quần áo của chị C đi. Sau khi hết ngập, chị C về nhà thì chồng và gia đình nhà chồng cho rằng chị có quan hệ với người khác đã đuổi đánh chị đi và vợ chồng sống ly thân đến nay. Từ khi chị C ra ngoài sinh sống, anh T không liên lạc, quan tâm gì với chị C. Chồng và gia đình nhà chồng không ai khuyên nhủ chị trở về đoàn tụ. Nay chị C xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh T, nên giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Tự Trịnh .
Về con chung: Vợ chồng chị có 03 con chung: Nguyễn Tự V1, sinh ngày 20/12/2007; Nguyễn Thị L, sinh ngày 08/12/2009; Nguyễn Phương Như Q, sinh ngày 16/11/2018. Hiện tại cả ba cháu đang ở cùng với bố. Khi ly hôn chị C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Phương Như Q vì cháu còn nhỏ, cần người chăm sóc. Hai cháu lớn hiện nay đã có thể tự lập, đang ở ổn định với bố. Cháu V1 và cháu L đang học trường T1 ở địa chỉ: thôn X, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội. Hiện tại chị C xác nhận không có thai.
Về cấp dưỡng: Chị C không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Chị C không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại biên bản lấy lời khai của anh Nguyễn Tự T ngày 04/3/2025, anh T trình bày: Anh với chị Nguyễn Thị C sinh năm 1989 có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn năm 2007 tại UBND xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh về chung sống với nhau tại nhà anh ở thôn N, xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống, vợ chồng đã nhiều lần xảy ra mâu thuẫn. Chị C đã mời gia đình hai bên đến nói chuyện, khuyên giải. Chị C ra ngoài sinh sống, gia đình anh đã khuyên giải chị C về đoàn tụ với anh để cùng nuôi dạy con cái nhưng chị C nhất quyết không về. Nay chị C có đơn xin ly hôn anh T và kiên quyết xin ly hôn thì anh T cũng đồng ý. Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị C ly hôn theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng anh có 03 con chung: Nguyễn Tự V1, sinh ngày 20/12/2007; Nguyễn Thị L, sinh ngày 08/12/2009; Nguyễn Phương Như Q, sinh ngày 16/11/2018. Hiện tại cả 3 cháu đang ở cùng với anh T. Trường hợp ly hôn, nếu chị C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q và chị C đảm bảo điều kiện chăm có con thì anh T cũng đồng ý để chị C được nuôi cháu Q. Nếu chị C không đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng con thì anh T có nguyện vọng được nuôi cả 3 con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh T tự nguyện không yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện tại anh T đi làm ở công ty nên không xin nghỉ đến Tòa án làm việc được. Vì vậy, anh T đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt anh.
* Về nguyện vọng của các con chung:
Cháu Nguyễn Tự V1 và cháu Nguyễn Thị L đều có bản tự khai nguyện vọng ở với bố là anh Nguyễn Tự T;
Cháu Nguyễn Phương Như Q có bản tự khai nguyện vọng được ở với mẹ là chị Nguyễn Thị C.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn – chị Nguyễn Thị C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn anh Nguyễn Tự Trịnh. Về con chung: Chị muốn được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung chưa thành niên là cháu Nguyễn Phương Như Q; đồng ý để anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Tự V1, sinh ngày 20/12/2007 và cháu Nguyễn Thị L, sinh ngày 08/12/2009 và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, công nợ chung: chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- + Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử, Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ và đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ. Bị đơn không chấp hành đầy đủ và đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ.
- + Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị cho chị C được ly hôn anh T. Về con chung: Đề nghị giao con chung chưa thành niên là cháu Nguyễn Phương Như Q, sinh ngày 16/11/2018 cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác; giao các cháu Nguyễn Tự V1, sinh ngày 20/12/2007 và cháu Nguyễn Thị L, sinh ngày 08/12/2009 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Các đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề nghị xem xét. Chị C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
[1.1.] Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị C có đơn khởi kiện đối với anh Nguyễn Tự T về việc xin ly hôn, nuôi con nên xác định đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về "Ly hôn, nuôi con chung" thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn – anh Nguyễn Tự T hiện có hộ khẩu thường trú và cư trú tại thôn N, xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội, nên Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Về sự vắng mặt của Bị đơn – Anh Nguyễn Tự T: Anh T đã có ý kiến xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Tự T tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 02/04/2007 tại UBND xã N, huyện C, tỉnh Hà Tây (nay là TP .), tuân thủ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị C thì thấy: Căn cứ lời khai của chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Tự T đều xác nhận không còn tình cảm vợ chồng, vợ chồng sống ly thân từ giữa năm 2024 đến nay. Chị C, anh T đều xác nhận không còn quan tâm đến nhau, không còn tình cảm vợ chồng. Chị C có đơn xin ly hôn với anh T thì anh T cũng đồng ý ly hôn nhưng xin vắng mặt không đến Tòa giải quyết. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị C và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho chị C được ly hôn với anh T là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2.2]. Về con chung: Chị C và anh T xác nhận có 03 con chung là Nguyễn Tự V1, sinh ngày 20/12/2007; Nguyễn Thị L, sinh ngày 08/12/2009; Nguyễn Phương Như Q, sinh ngày 16/11/2018.
Xét nguyện vọng nuôi con chung sau khi ly hôn thì thấy: cháu Q có nguyện vọng ở cùng với chị C. Chị C có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Q và anh T cũng đồng ý để chị C trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao con chung chưa thành niên là cháu Q cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là hoàn toàn hợp lý, phù hợp với nguyện vọng của các đương sự.
Cháu Nguyễn Tự V1 và cháu Nguyễn Thị L hiện đang ở cùng với anh T. Cả hai cháu có nguyện vọng được ở cùng với bố. Anh T cũng có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng các cháu và chị C cũng đồng ý để anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu V1, cháu L. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao con chung chưa thành niên là cháu V1 và cháu L cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là hoàn toàn hợp lý, phù hợp với nguyện vọng của các đương sự.
Chị C, anh T có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
[2.3]. Về cấp dưỡng: Chị C, anh T tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị C, anh T cho đến khi có sự thay đổi khác.
[2.4]. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị C và anh T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Xử:
- Chị Nguyễn Thị C được ly hôn với Anh Nguyễn Tự Trịnh.
-
Về con chung: Chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Tự T có 03 con chung là Nguyễn Tự V1, sinh ngày 20/12/2007; Nguyễn Thị L, sinh ngày 08/12/2009; Nguyễn Phương Như Q, sinh ngày 16/11/2018.
Giao cho chị Nguyễn Thị C được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Nguyễn Phương Như Q, sinh ngày 16/11/2018 cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
Giao cho anh Nguyễn Tự T được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Nguyễn Tự V1, sinh ngày 20/12/2007 và Nguyễn Thị L, sinh ngày 08/12/2009 cho đến khi cháu V1, cháu L đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
Chị Nguyễn Thị C, anh Nguyễn Tự T đều có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị C, anh T không đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị C, anh T cho đến khi có thay đổi khác.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị C phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm; được đối trừ với 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí chị C đã nộp theo “Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án” số 0061976 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ ngày 05/11/2024.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Luân |
Bản án số 116/2025/HNGĐ-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 116/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
