Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 116/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24 - 03 - 2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Mai Xuân Thường
  2. Bà Bùi Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến – Thư ký viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Không tham gia phiên toà.

Ngày 24 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 624/2024/HNGĐST ngày 16 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Văn C, sinh năm 1991; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: khối N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: 2-14-1 H, TP., T, Nhật Bản. Vắng mặt (có đề nghị xét xử vắng mặt).

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Phan Thị T, sinh năm 1987; Địa chỉ: số E, đường P, khối D, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (Uỷ quyền giao nhận văn bản tố tụng).

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1995; Địa chỉ: xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 27/11/2024, Bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lê Văn C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: A và chị Nguyễn Thị M kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 91/2018 ngày 27/12/2018 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chỉ chung sống với nhau một thời gian ngắn. Năm 2019, anh C đi xuất khẩu lao động sang đất nước Nhật Bản. Từ đó, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do khoảng cách địa lý xa xôi, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không quan tâm, liên lạc gì với nhau nữa. Hiện nay nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài thêm được nữa nên anh C yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với chị Nguyễn Thị M.

- Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị M có 01 con chung là cháu: Lê Thị Thùy D, sinh ngày 16/05/2019. Hiện nay cháu Thùy D đang ở cùng chị M nên nay ly hôn, anh đồng ý giao cháu cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp nuôi dưỡng. Tiền cấp dưỡng nuôi con, anh sẽ thực hiện theo quy định pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Anh C không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đồng thời, do điều kiện công việc và địa lý nên anh không thể đi lại để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm và các buổi hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ nên anh đề nghị Toà án xem xét giải quyết vắng mặt. Các văn bản tống đạt của Tòa án kính đề nghị Toà án tống đạt cho người đại diện theo uỷ quyền của anh là bà Phan Thị T.

Tại Bản tự khai ngày 06/03/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là chị Nguyễn Thị M trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ngày 27/12/2018, chị M và anh Lê Văn C tự nguyện kết hôn với nhau tại UBND xã V, huyện N, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, hoà thuận, quan tâm chăm sóc nhau. Từ năm 2019, anh C đi xuất khẩu lao động tại đất nước Nhật Bản. Từ đó, vợ chồng cắt đứt liên lạc, anh C không quan tâm gì đến vợ con, không liên lạc và hỏi thăm gì gia đình, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do khoảng cách địa lý quá xa, vợ chồng không quan tâm gì nhau cả vật chất lẫn tinh thần. Nay xét thấy tình cảm không còn, anh C làm đơn đề nghị ly hôn với chị M thì chị M đồng ý, đề nghị Toà án xem xét giải quyết.

- Về con chung: Chị M thừa nhận như trình bày của anh C, chị và anh C có 01 con chung là cháu Lê Thị Thùy D, sinh ngày 16/5/2019. Hiện nay, cháu D đang ở

cùng chị M và do chị M chăm sóc nuôi dưỡng. Nay ly hôn, chị M đề nghị Toà án giao cháu D cho chị M tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị M đề nghị anh Lê Văn C cấp dưỡng nuôi con số tiền là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng)/tháng cho đến khi cháu D đến tuổi trưởng thành.

Về tài sản chung, nợ chung: Hiện nay, chị M không yêu cầu Toà án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 27 tháng 11 năm 2024, anh Lê Văn C có đơn khởi kiện gửi tới Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với chị Nguyễn Thị M. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì nguyên đơn anh Lê Văn C có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại khối N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An và nơi làm việc hiện nay tại địa chỉ: 2 H, TP., T, Nhật Bản; còn bị đơn chị Nguyễn Thị M có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay tại xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Lê Văn C không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài, xin vắng mặt tất cả các buổi làm việc nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Đồng thời, do trong vụ án ly hôn này, Tòa án không tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lê Văn C:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa anh Lê Văn C và chị Nguyễn Thị M được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hoà thuận và đã có một người con chung nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, sau khi anh C đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản thì do khoảng cách địa lý xa xôi nên tình trạng vợ

chồng càng trở nên trầm trọng, vợ chồng không quan tâm lẫn nhau cả về đời sống vật chất và tinh thần. Tại các Bản tự khai, anh C và chị M đều thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên thống nhất giải quyết ly hôn. Hội đồng xét thấy, thời gian vợ chồng chung sống với nhau là chưa dài nhưng đã phát sinh mâu thuẫn một thời gian mà cả hai bên đương sự đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, đều yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc anh C yêu cầu giải quyết ly hôn và chị M đồng ý ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 55 Luật Hôn nhân - Gia đình nên ghi nhận sự thuận tình ly hôn này của hai anh chị.

[2.2] Về quan hệ con chung: Tại các Bản tự khai, anh C và chị M đều trình bày vợ chồng có một con chung là: cháu Lê Thị Thùy D, sinh ngày 16/5/2019. Hiện nay cháu D đang ở cùng chị M. Nay ly hôn, chị M có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và anh C cũng đồng ý giao cháu D cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng. Xét thấy: Việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ. Từ khi anh C đi làm việc tại nước ngoài đến nay, cháu D đang được Mơ chăm sóc, nuôi dưỡng và phát triển hoàn toàn bình thường. Anh C hiện nay đang cư trú tại nước ngoài, không thể trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, cần giao con chung cho chị Nguyễn Thị M tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng như anh C và chị M đã thống nhất trình bày là đảm bảo sự ổn định học tập, cuộc sống của cháu Lê Thị Thùy D.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, tại đơn khởi kiện, B tự khai và quá trình giải quyết vụ án anh Lê Văn C đồng ý thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Bị đơn chị Nguyễn Thị M yêu cầu anh Lê Văn C cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) cho đến khi cháu D đủ tuổi trưởng thành. Hội đồng xét thấy: anh C không trực tiếp nuôi con nên có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 2 Điều 82, Điều 107, 110 Luật Hôn nhân và Gia đình. Như vậy, việc chị M yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ. Chị M đưa ra mức cấp dưỡng 4.000.000 đồng/tháng (bốn triệu đồng/tháng) cho đến khi cháu D đủ tuổi trưởng thành, Hội đồng thấy rằng mức cấp dưỡng mà chị M đưa ra cũng phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của các bên, mức sinh hoạt trung bình tại địa phương và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần chấp nhận.

Anh C không trực tiếp nuôi con sau ly hôn nên có quyền đi lại thăm nom con chung; không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Tại các bản tự khai, anh C và chị M đều không yêu cầu Toà án giải quyết về phần tài sản nên miễn xét.

[3]. Về án phí: Anh Lê Văn C phải chịu 75.000 đồng (Bảy lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con. Tổng số tiền án phí anh C phải chịu là 375.000 đồng (Ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí anh đã nộp theo Biên lai số 0013624 ngày 11/12/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Như vậy, anh Lê Văn C phải nộp tiếp 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm.

Chị Nguyễn Thị M phải chịu 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, Điều 39, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 55, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Lê Văn C và chị Nguyễn Thị M.

2. Về quan hệ con chung: Ghi nhận sự thoả thuận giữa anh Lê Văn C và chị Nguyễn Thị M là giao con chung Lê Thị Thùy D, sinh ngày 16/5/2019 cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lê Văn C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Lê Thị Thùy D cùng chị Nguyễn Thị M mỗi tháng là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) kể từ tháng 3 năm 2025 cho đến khi cháu D thành niên đủ 18 tuổi.

Anh Lê Văn C có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh Lê Văn C và chị Nguyễn Thị M không yêu cầu nên Toà án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.

4. Về án phí: Anh Lê Văn C phải chịu 75.000 đồng (Bảy lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con. Tổng số tiền án phí anh C phải chịu là 375.000 đồng (Ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí anh đã nộp theo Biên lai số 0013624 ngày 11/12/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Như vậy, anh Lê Văn C phải nộp tiếp 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm.

Chị Nguyễn Thị M phải chịu 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm (Chị M chưa nộp).

5. Kể từ ngày chị Nguyễn Thị M có đơn yêu cầu thi hành án cấp dưỡng nuôi con cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, nếu anh Lê Văn C không chịu thi hành thì hàng tháng anh C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

7. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: Anh Lê Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Vân Diên, huyện Nam Đàn,
  • tỉnh Nghệ An (theo Giấy ĐKKH số
  • 91/2018 ngày 27/12/2018);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Nga

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Mai Xuân Thường

Bùi Thị H

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh N

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2025/HNGĐ-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 116/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giải quyết ly hôn giữa C và M
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger