Hệ thống pháp luật

Mẫu số 52-DS

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2025/HNGĐ-ST

Ngày 20 tháng 6 năm 2025

V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Vân và ông Đặng Hữu Tấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Minh Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 358/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 328/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 325/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Hoàng V, sinh năm 1996; Địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. ĐT: 0985.773.xxx (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Cẩm N, sinh năm 1997; Địa chỉ: Số C P, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. ĐT: 0985.991.xxx hoặc 0817.935.557 (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết nguyên đơn ông Lê Hoàng V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông V và bà N quen biết nhau do mai mối và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 20/10/2020. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, thường xuyên cự cãi dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Vợ chồng sống ly thân đã lâu. Do tình cảm vợ chồng không còn hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn trầm trọng nên ông V yêu cầu ly hôn bà Huỳnh Thị Cẩm N.

Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Lê Huỳnh Bảo T, sinh ngày 02/9/2020. Hiện cháu T đang sống cùng bà N, sau khi ly hôn ông V đồng ý giao con chung cho bà N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và ông V cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Huỳnh Thị Cẩm N không có văn bản trình bày ý kiến, không tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ và hòa giải cũng như không tham dự phiên tòa do Tòa án triệu tập.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn ông Lê Hoàng V có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn bà Huỳnh Thị Cẩm N được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai, không có lý do và không tham gia phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và còn phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Nguyên đơn, bị đơn tự nguyện tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn là có cơ sở theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận; Về con chung: có 01 con chung tên Lê Huỳnh Bảo T, sinh ngày 02/9/2020, hiện đang sống cùng bà N, sau khi ly hôn ông V đồng ý giao cháu T cho bà N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng: buộc ông Lê Hoàng V cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật cho đến khi trưởng thành. Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Lê Hoàng V khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Huỳnh Thị Cẩm N. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý là đúng thẩm quyền.

[2] Tại biên bản xác minh tình trạng cư trú ngày 22/4/2025, Công an phường M, thành phố L xác nhận: Đương sự Huỳnh Thị Cẩm N, sinh năm 1997, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số C khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp, niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn hợp lệ nhưng bị đơn đã từ chối các quyền, cũng như không thực hiện nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

- Về nội dung vụ án:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông V và bà N xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Khi vợ chồng chung sống thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên ông V cương quyết yêu cầu ly hôn, bà N cũng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu ly hôn của ông V.

Hội đồng xét xử nhận thấy, hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện, ông V xác định không thể tiếp tục chung sống cùng với bà N, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, giữa vợ chồng không còn thực hiện các quyền và nghĩa vụ cũng như không cố gắng hàn gắn, duy trì cuộc sống hôn nhân. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông V là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: có 01 (một) con chung tên Lê Huỳnh Bảo T, sinh ngày 02/9/2020, hiện đang sống cùng bà N, sau khi ly hôn ông V đồng ý giao cháu T cho bà N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Hội đồng xét xử nhận thấy cháu T chưa thành niên, đang được bà N trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp, cuộc sống của cháu đã ổn định. Vì vậy, nhằm để ổn định cuộc sống của cháu T không bị ảnh hưởng tâm sinh lý về việc cha, mẹ ly hôn và đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung. Mặt khác, bà N không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu của ông V về việc giao cháu T cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Lê Huỳnh Bảo T, sinh ngày 02/9/2020 cho bà Huỳnh Thị Cẩm N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là chính đáng và có cơ sở theo quy định tại Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con chung: theo quy định pháp luật, sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, ông V tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án không ghi nhận được ý kiến của bà N đối với yêu cầu của ông V nên Hội đồng xét xử căn cứ theo khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình thì “...mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con” và Điều 3 Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính Phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động thì mức lương tối thiểu của thành phố L thuộc vùng II là 4.410.000 đồng cho nên mức cấp dưỡng của ông V hàng tháng cho bà N nuôi cháu T là 2.205.000 đồng/tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi sống bản thân, trừ trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật. Mức cấp dưỡng được điều chỉnh theo từng thời điểm do pháp luật quy định.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: ghi nhận ý kiến của ông V trình bày không có nên không đề cập giải quyết.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông V phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Bà N không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 186; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84; Điều 107; Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình 2014;
  • - Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
  • - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Lê Hoàng V đối với bà Huỳnh Thị Cẩm N.

[2] Về con chung: Giao con chung tên Lê Huỳnh Bảo T, sinh ngày 02/9/2020 cho bà Huỳnh Thị Cẩm N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành.

Ông Lê Hoàng V không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản ông V thực hiện quyền này.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con chung:

Buộc ông Lê Hoàng V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Lê Huỳnh Bảo T, sinh ngày 02/9/2020 mỗi tháng 2.205.000 đồng/tháng (hai triệu, hai trăm lẻ năm nghìn đồng) kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi sống bản thân, trừ trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật. Mức cấp dưỡng được điều chỉnh theo từng thời điểm do pháp luật quy định.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

[4] Về tài sản chung: không xem xét, giải quyết.

[5] Về nợ chung: ghi nhận ông V xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì ông Lê Hoàng V và bà Huỳnh Thị Cẩm N vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Lê Hoàng V phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, tổng cộng 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002722 ngày 18/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ông V còn phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Bà Huỳnh Thị Cẩm N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[7] Về quyền kháng cáo:

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TP Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS TP.Long Xuyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - VP (5)./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 116/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Việt - Nhung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger